Phụ lục B: Những đoạn kinh nói về cảm giác (nghệ thuật sống)

tháng 5 27, 2020

Phụ lục B: Những đoạn kinh nói về cảm giác


 Trong những bài giảng, Đức Phật thường nhắc tới tầm quan trọng của sự ý thức về cảm giác. Dưới đây là những đoạn kinh được chọn lọc đề cập tới đề tài này.

 Trên trời có nhiều loại gió thổi, gió đông, gió tây, gió nam, gió bắc, gió đầy cát bụi hay gió trong sạch, gió nóng, gió lạnh, cuồng phong hay gió hiu hiu... Cũng vậy, trong người có những cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Khi một hành giả tu tập hăng say thì không bỏ quên khả năng hiểu biết thấu đáo (sampajanna). Một người có trí như vậy sẽ hoàn toàn thấu hiểu được những cảm giác, và sẽ thoát khỏi mọi bất tịnh ngay trong chính cuộc đời này. Đến cuối đời, một người như thế đã củng cố trong Pháp, hoàn toàn thấu hiểu cảm giác, sẽ đạt đến giai đoạn không thể diễn tả bằng lời, bên ngoài thế gian hữu vi này.
  S. XXXVI (II). ii.12 (2), Paṭhama Ākāsa Sutta.



 Người hành thiền quan sát thân trong thân như thế nào? Trong trường hợp này, một hành giả đi vào rừng, đến một gốc cây, hay một nơi yên tĩnh, ngồi xếp bằng, lưng thẳng, chú tâm vào khu vực quanh miệng. Với sự ý thức, người đó hít vào và thở ra. Hít vào một hơi dài, người đó biết rõ, “Tôi đang hít vào một hơi dài.” Thở ra một hơi dài, người đó biết rõ, “Tôi đang thở ra một hơi dài.” Hít vào một hơi ngắn, người đó biết rõ, “Tôi đang hít vào một hơi ngắn.” Thở ra một hơi ngắn, người đó biết rõ, “Tôi đang thở ra một hơi ngắn.” “Cảm nhận được cả cơ thể, tôi hít vào”; người đó luyện tập như vậy. “Cảm nhận được cả cơ thể, tôi thở ra”; người đó luyện tập như vậy. “Với sự lắng dịu của những hoạt động cơ thể, tôi hít vào”; người đó luyện tập như vậy. “Với sự lắng dịu của những hoạt động cơ thể, tôi thở ra”; người đó luyện tập như vậy.
 22/M. 10, Satipaṭṭhāna Sutta, Ānāpāna-pabbaṃ

 Khi một cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính nổi lên, hành giả hiểu rằng, “Một cảm giác dễ chịu, khó chịu, hay trung tính nảy sinh trong tôi. Cảm giác dựa trên một cái gì, hay không dựa trên một cái gì cả. Nó dựa trên cái gì? Trên chính cơ thể này.” Như vậy hành giả quan sát bản chất vô thường của cảm giác trong thân.
  S. XXXVI (II).i.7, Paṭhama Gelañña Sutta

 Hành giả hiểu được rằng: “Có một kinh nghiệm dễ chịu, khó chịu, hay trung tính nảy sinh trong tôi. Nó được cấu tạo với tính chất thô kệch, tùy thuộc vào những điều kiện. Nhưng cái thật sự tồn tại và tốt đẹp nhất là sự bình tâm.” Dù một kinh nghiệm dễ chịu hay khó chịu, hay trung tính nảy sinh trong người thì cũng sẽ chấm dứt, nhưng sự bình tâm thì tồn tại.
  M. 152, Indriya Bhāvanā Sutta

  Có ba loại cảm giác: dễ chịu, khó chịu và trung tính. Cả ba đều vô thường, được tạo nên và lệ thuộc vào những điều kiện, không tránh khỏi sự hủy hoại, mờ nhạt, tan biến đi. Nhìn thấy thực tại này, người được huấn luyện kỹ về Bát Thánh Đạo sẽ giữ được sự bình tâm với những cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Nhờ phát triển sự bình tâm, người đó không còn bám chấp. Và do phát triển sự không bám chấp, người đó được giải thoát.
  M. 74, Dīghanakha Sutta.

 Nếu một người hành thiền quan sát sự vô thường của một cảm giác dễ chịu trong thân và sự phai nhạt, sự chấm dứt của cảm giác đó, đồng thời quan sát sự hủy diệt những bám víu của mình vào cảm giác đó, thì điều kiện ẩn tàng của sự thèm muốn về cảm giác dễ chịu trong thân bị diệt trừ. Nếu người đó quan sát sự vô thường của một cảm giác khó chịu trong thân, thì điều kiện ẩn tàng của chán ghét về những cảm giác khó chịu trong thân sẽ bị diệt trừ. Nếu người đó quan sát sự vô thường của những cảm giác trung tính trong thân, thì điều kiện ẩn tàng của vô minh về cảm giác trung tính trong thân sẽ bị diệt trừ.
  S. XXXVI (II). i. 7 Pathama Gelanna Sutta. 

 Khi những điều kiện ẩn tàng của sự thèm muốn về cảm giác dễ chịu, chán ghét về cảm giác khó chịu, và vô minh về cảm giác trung tính bị loại trừ, hành giả được gọi là người hoàn toàn thoát khỏi mọi điều kiện, thấy được sự thật, cắt đứt mọi thèm muốn và chán ghét, cắt đứt mọi ràng buộc, và hoàn toàn thấu hiểu được tính chất huyễn hoặc của tự ngã, và chấm dứt được khổ đau.
 S. XXXVI (II). i. 3, Pahāna Sutta. 

 Nhìn thấy sự thật đúng như thật trở thành kiến thức chân chánh của hành giả. Ý tưởng về sự thật đúng như thực tại trở thành ý nghĩ chân chánh của hành giả. Nỗ lực tiến tới sự thật đúng như thật trở thành nỗ lực chân chánh của thiền giả.Sự cố gắng đúng đắn của hành giả. Ý thức về sự thật đúng như thật trở thành ý thức chân chánh của hành giả. Chú tâm vào sự thật đúng như thật trở thành định chân chánh của thiền giả. Hành động bằng lời nói và việc làm và kế sinh nhai được thực sự thanh lọc. Như vậy Bát Thánh Đạo giúp hành giả phát triển và viên mãn.
 M. 149. Mahā-Saḷāyatanika Sutta.

 Người trung thành theo Bát Thánh Đạo luôn luôn nỗ lực, và do nỗ lực kiên trì mà trở nên tỉnh giác, do duy trì được ý thức tỉnh giác nên đạt sự định tâm, do duy trì sự định tâm nên phát triển chánh kiến, do chánh kiến nên phát triển niềm tin chân thật, người ấy tự tin trong hiểu biết: “Những sự thật mà trước kia tôi chỉ được nghe nói thì bây giờ tôi được thể nghiệm trực tiếp trong cơ thể, và tôi quan sát chúng bằng tuệ giác xuyên thấu.”
 S.XLVIII (IV). v.10 (50), Āpana Sutta (Đây là lời của Ngài Sāriputta, đệ tử chính của Đức Phật




 Bảng chú giải từ ngữ Pali

 Những từ để trong ngoặc đơn, đậm nét và nghiêng là những từ thông dụng trong nhà Phật. 

 acariya thiền sư, người hướng dẫn, thầy, cô. 
 adhithana sự quyết tâm. Một trong mười parami, phẩm hạnh (ba-la-mật).
 akusala bất thiện, có hại. Trái nghĩa kusala. 
 ananda vui sướng, hạnh phúc, hoan hỉ. 
 ānāpāna hô hấp, hơi thở. Ānāpāna-sati: ý thức về hơi thở, (niệm hơi thở). 
 anattā vô ngã, không có cái ta, không có tự tánh, không có thực chất. Một trong ba đặc tính căn bản. Xem lakkhana. 
 anicca vô thường, phù du, thay đổi. Một trong ba đặc tính căn bản. Xem lakkhana. 
 arahant / arahat bậc giác ngộ (A-la-hán); người đã diệt hết mọi bất tịnh trong tâm. Xem Buddha. 
 ariya thánh thiện, bậc thánh, thánh nhân. Người đã thanh lọc tâm tới trình độ đạt được sự thật tối hậu (nibbāna). Có bốn trình độ Ariya, từ sotapanna (nhập lưu), người sẽ tái sanh tối đa bảy kiếp, cho tới arahat, người sẽ không còn tái sinh sau đời hiện tại. 
 ariya aṭṭhaṅgika magga Bát Thánh Đạo (Bát Chánh Đạo). Xem magga.
 ariya sacca Sự Thật Thánh Thiện (Diệu Đế). Xem Sacca.
 asubha bất tịnh, xấu, không đẹp. Trái nghĩa subha, thanh tịnh, tinh khiết, đẹp. 
 Aasutava/assutavant không được chỉ dạy; người không có trí, phàm phu, người chưa bao giờ được nghe nói về sự thật, người thiếu ngay cả suta-maya-panna, và do đó không thể dấn bước trên con đường giải thoát. Trái nghĩa sutava.
 avijja vô minh, ảo tưởng. Mắt xích đầu tiên trong Chuỗi Nhân Duyên Sinh (paticca samuppada). Cùng với tham (raga) và sân (dosa), vô minh là một trong ba tật xấu chính trong tâm. Ba tật xấu này là cội nguồn của mọi bất tịnh đưa đến khổ. Đồng nghĩa với moha. 
 ayatana phạm vi, lãnh vực, đặc biệt là sáu lĩnh vực cảm nhận (lục căn) (salatayana), nghĩa là: Năm giác quan cộng với tâm, và đối tượng tương ứng như (lục căn và lục trần): 
 mắt (cakkhu) và cảnh (rupa), 
 tai (sota) và âm thanh (sadda),
 mũi (ghana) và mùi (gandha)
 lưỡi (jivha) và vị (rasa), 
 thân (kaya) và xúc chạm (photthabba), 
 tâm (namo) và đối tượng của tâm ý, nghĩa là ý nghĩ đủ loại (dhamma) Đây còn được gọi là sáu giác quan. Xem indriya. 
 bala sức mạnh, năng lực (lực). Năm sức mạnh tinh thần là niềm tin (saddha), nỗ lực (viriya), ý thức (sati), định (samadhi), trí tuệ (panna). Dưới hình thức kém hơn, đây đuợc gọi là năm khả năng. Xem indriya. 
 bhaṅga sự tan rã. Một giai đoạn quan trọng trong sự tu tập Vipassana, chứng nghiệm được sự tan rã của cơ thể, tưởng như chắc đặc, thành những rung động tinh tế luôn luôn sinh và diệt. 
 bhava (trong tiến trình) sinh thành, ra đời. Bhava-cakka: vòng luân hồi, bánh xe luân hồi. Xem cakka.
 bhāvanā mở mang, phát triển trí tuệ, thiền. Hai phương pháp bhavana là thiền an tĩnh, (samatha-bhāvanā), tương ứng với định tâm, hay thiền định (samādhi), và thiền Vipassana (Minh sát thiền, Thiền quán, Thiền tuệ), vipassanā-bhāvanā tương ứng với tuệ giác (paññā). Sự phát triển samatha sẽ đưa tới trạng thái định jhāna; sự phát triển vipassanā sẽ đưa tới giải thoát. Xem jhāna, paññā, samādhi, vipassanā.
 bhāvanā-mayā paññā trí tuệ phát triển nhờ kinh nghiệm trực tiếp của chính mình, tuệ giác (tu tuệ). Xem paññā. 
 Bhavatu sabba mangalam “Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc”. Một câu nói cổ truyền dùng để diễn tả thiện ý đối với người khác. 
 bhikkhu (Phật giáo) tăng sĩ; thiền giả, tỳ kheo, khất sĩ. Nữ giớ bhikkhuṇī: ni cô, tỳ kheo ni, sư cô. 
 bodhi sự giác ngộ. 
 Bodhisatta nghĩa đen, “Bậc giác ngộ” (Bồ Tát). Người đang tu tập để trở thành Phật. Dùng để chỉ Siddhattha Gotama vào thời chưa thành chánh quả. Sanskrit bodhisatva. 
 bojjhanga nhân tố thành đạo (thất giác chi), nhân tố giác ngộ, nghĩa là phẩm hạnh giúp ta được giác ngộ. Bảy nhân tố này là ý thức (niệm) (sati), nghiên cứu thâm sâu về Dhamma (Dhamma-vicaya) (trạch pháp), nỗ lực (tinh tấn) (viriya), vui mừng (hỉ) (piti), bình yên/thanh thản (khinh an) (passadhi), định tâm (samadhi), bình tâm (xả) (upekkha). 
 brahma chư thiên, phạm thiên; chữ dùng trong Ấn Độ giáo để chỉ chúng sinh cao nhất trong mọi loài chúng sinh, thường để chỉ Đấng Tạo Hóa - Thượng đế toàn năng, nhưng Đức Phật cho rằng họ cũng là đối tượng của sự hủy hoại và chết như mọi chúng sinh. 
 brahma-vihara bản chất của brahma, đó là trạng thái tâm cao thượng hay thánh thiện, trong đó có bốn phẩm chất thanh tịnh: từ tâm (từ) (metta), thương xót (bi) (karuna), mừng vui với hạnh phúc của người khác (hỉ) (mudita), bình tâm trong mọi hoàn cảnh (xả) (upekkha); trau dồi một cách quy củ bốn phẩm chất này bằng cách tu tập thiền. 
 brahmacariya không dâm dục, một cuộc sống trong sạch và thánh thiện (phạm hạnh). 
 brahmana nghĩa đen, một người thánh thiện (bà-la-môn). Thời xưa dùng để chỉ một người thuộc đẳng cấp tu sĩ tại Ấn Độ. Người đó dựa vào một vị thần (Brahma) để được cứu rỗi hoặc giải thoát; theo đường lối này họ khác với samana (sa-môn). Đức Phật mô tả brahmana hay bà-la-môn đúng nghĩa là người đã thanh lọc được tâm, nghĩa là bậc arahat. 
 Buddha bậc giác ngộ, người đã khám phá ra con đường giải thoát, đã thực hành, và đã đạt được mục tiêu bằng nỗ lực của chính mình.
 cakka bánh xe, bhava-cakka, bánh xe luân hồi (nghĩa là tiến trình khổ đau), tương đương với samsara. Dhamma-cakka, bánh xe Dhamma (Pháp luân - nghĩa là giáo lý hoặc tiến trình giải thoát). Bhava-cakka tương đương với chuỗi nhân duyên sinh (duyên khởi) theo chiều thuận. Dhamma-cakka tương đương với chuỗi duyên khởi theo chiều ngược lại, đưa tới chấm dứt thay vì gia tăng khổ đau. 
 cintā-mayā paññā tuệ tư duy, trí tuệ đạt được nhờ suy luận, (tư tuệ). Xem paññā. 
 citta tâm. Cittānupassanā, quan sát tâm. Xem satipaṭṭhāna. 
 dana hiến tặng, từ thiện, rộng lượng, (cúng dường, bố thí). Một trong mười parami 
 dhamma (Sanskrit: dharma) hiện tượng, đối tượng của tâm, nội dung của tâm, tâm ý (pháp); tự nhiên, luật tự nhiên, luật giải thoát, nghĩa là giáo lý của bậc giác ngộ. Dhammānupassanā, quan sát nội dung của tâm. Xem satipaṭṭhāna.
 dhatu nguyên tố (xem maha-bhutani); điều kiện tự nhiên, tính chất. 
 dosa ghét bỏ (sân). Cùng với raga và moha, một trong ba bất tịnh chính trong tâm. 
 dukkha khổ, không hài lòng. Một trong ba đặc tính căn bản (xem lakkana). Sự Thật Thứ Nhất (Khổ Đế) (xem cakka).
 Gotama (Sanskrit: Gautama) tên họ của Đức Phật trong lịch sử. 
 Hīnayāna nghĩa đen: chiếc xe nhỏ (Tiểu thừa). Từ của những người theo tông phái khác dùng để chỉ Phật giáo Theravāda. 
 indriya năng lực, khả năng. Dùng trong bài này để chỉ sáu giác quan (xem ayatana) và năm sức mạnh tinh thần (ngũ lực) (xem bala).
 jati sanh ra đời, tồn tại, hiện hữu, (hữu). 
 jhāna trạng thái nhập định (trance). Có tám trạng thái như vậy có thể đạt được nhờ thực tập samādhi, hoặc samatha-bhāvanā (xem bhavana). Trau dồi chúng đưa tới an tĩnh và hỉ lạc, nhưng không diệt trừ được những bất tịnh trong thâm tâm. 
 kalāpa / attha-kalapa vi tử, đơn vị nhỏ nhất, không thể chia cắt của vật chất, gồm có bốn nguyên tố cùng những đặc tính của chúng. Xem maha-bhutani. 
 kalyana-mitta nghĩa đen, giúp người, do đó là người hướng dẫn một người tới giải thoát, nghĩa là người hướng dẫn tâm linh, vị thầy tâm linh 
 kamma (Sanskrit: karma) hành động, đặc biệt là một hành động sẽ gây ảnh hưởng cho tương lai của mình, nghiệp. Xem sankhara. 
 kāya thân, cơ thể. Kāyānupassanā, quan sát thân. Xem satipaṭṭhāna.
 khanda khối, nhóm, tập hợp (uẩn). Con người gồm có năm tập hợp (ngũ uẩn) : vật chất (sắc) (rupa), hay biết (thức) (vinnana), nhận thức, nhận biết, nhận định (tưởng) (sanna), cảm giác (thọ) (vedana), phản ứng, tạo nghiệp (hành) (sankhara).
 kilesa phiền não, xấu xa, bất tịnh trong tâm, ô nhiễm. Anusaya kilesa, phiền não tiềm ẩn, bất tịnh nằm im trong vô thức. 
 kusala thiện, hữu ích. Trái nghĩa với akusala. 
 lakkhana dấu hiệu, đặc điểm phân biệt, đặc tính. Ba đặc tính (tilakkhana) là anicca, dukkha, anatta. Hai đặc tính đầu thường có ở mọi hiện tượng hữu nghiệp. Đặc tính thứ ba thường có ở mọi hiện tượng hữu nghiệp và vô nghiệp. 
 lobha ham muốn (tham). Đồng nghĩa với raga. 
 loka . thế giới vĩ mô, nghĩa là vũ trụ, thế gian, cảnh giới của sự sống; 2. thế giới vi mô, có nghĩa cấu trúc tinh thần-vật chất. Loka-dhamma, chông gai của cuộc đời, thăng trầm trong cuộc sống mà ai cũng gặp phải, có nghĩa là được hay mất, thắng hay bại, khen hay chê, sướng hay khổ.
 magga đường lối, con đường (Đạo). Ariya Atthangika Magga, Bát Thánh Đạo đưa đến giải thoát khỏi khổ đau. Bát Thánh Đạo chia ra làm ba giai đoạn hay tập luyện:
 I. Sila, đạo đức, sự trong sạch của lời nói và việc làm (Giới)
 i. samma-vacca, lời nói chân chính (Chánh ngữ); 
 ii. samma-kammanta, hành động chân chính (Chánh nghiệp); 
 iii. samma-ajiva, nghề nghiệp chân chính (Chánh mạng); 
 II. Samadhi, định, làm chủ được tâm (Định): 
 iv. samma-vayama, nỗ lực chân chính (Chánh tinh tấn); 
 v. samma-sati, ý thức chân chính (Chánh niệm); 
 vi. samma-samadhi, định chân chính (Chánh định); 
 III. Panna, trí tuệ, tuệ giác hoàn toàn thanh lọc được tâm: 
 vii. samma-sankappa, ý nghĩ chân chính (Chánh tư duy); 
 viii. samma-ditthi, hiểu biết chân chính (Chánh kiến); 
 Magga là Sự Thật Thứ Tư (Đạo Đế) trong Bốn Sự Thật Thánh Thiện. Xem sacca.
 maha-bhutani bốn nguyên tố có trong mọi vật chất (tứ đại): 
 Pathavi-dhatu - nguyên tố đất (sức nặng). 
 Apo-dhatu - nguyên tố nước (sự kết hợp) 
 Tejo-dhatu - nguyên tố lửa (nhiệt độ) 
 Vayo-dhatu - nguyên tố khí (gió) (chuyển động). 
 Mahāyāna nghĩa đen, ‘đại thừa’, chiếc xe lớn. Tông phái Phật giáo phát triển tại Ấn Độ vài thế kỷ sau thời của Đức Phật và truyền sang phía bắc như Tây Tạng, Trung Hoa, Việt Nam, Mông Cổ, Đại Hàn và Nhật Bản. 
 mangala an vui, phước lành, hạnh phúc. 
 mara sự hiện thân của các tâm bất tịnh, ma vương, lực âm. 
 mettā tình thương vô vị lợi và thiện chí, từ tâm. Một trong những phẩm chất của một tâm thanh tịnh (xem Brahma-vihara); một trong mười parami. Mettā-bhāvanā, trau dồi mettā một cách hệ hốn bằn hươn há thiền (từ bi uán).
 moha vô minh, si mê, ảo tưởng. Đồng nghĩa với avija. Cùng với raga và dosa, một trong ba bất tịnh chính trong tâm. 
 nama tâm, tinh thần (danh). Nama-rupa, tâm và thân, môi trường tinh thần-vật chất. Nama-rupa viccheda, sự chia lìa giữa tâm và thân khi chết, hay khi chứng nghiệm được nibbana. 
 nibbāna (Sanskrit: nirvāṇa) tịch diệt; giải thoát; sự thật tối hậu; dứt sạch nghiệp (Niết bàn). 
 nirodha chấm dứt, diệt trừ, diệt (tịch diệt). Thường được dùng đồng nghĩa với nibbana. Nirodha-sacca sự thật về hết khổ, Sự Thật Thứ Ba (Diệt Đế) trong Bốn Sự Thật Thánh Thiện. Xem sacca. 
 niravana chướng ngại, trở ngại. Năm trở ngại trong việc phát triển tâm trí là ham muốn (tham) (kamacchanda), ghét bỏ (sân) (vyapada), uể oải về thể xác và tinh thần (hôn trầm, thụy miên) (thina-middha), bồn chồn, bất an (trạo cử) (uddhacca-kukkucca), nghi ngờ (vicikiccha). 
 olarika nặng nề, thô trược. Trái nghĩa sukkuma. 
 Pāli chữ, sách, kinh sách ghi lại giáo lý của Đức Phật; do đó là chữ viết trong kinh. Chứng tích trong lịch sử, ngôn ngữ, khảo cổ chứng minh đó là tiếng nói đích thực được dùng ở miền Bắc Ấn Độ vào thời hoặc gần thời của Đức Phật. Sau đó kinh được dịch sang tiếng Sanskrit là ngôn ngữ chỉ dùng trong sách vở. 
 paññā trí tuệ, tuệ. Phần thứ ba trong ba sự thực tập khi tu tập Bát Thánh Đạo (xem magga). Có ba loại trí tuệ: 
 1. Tuệ thụ nhận, trí tuệ do nghe từ người khác (Văn tuệ) (suta-mayā paññā), 
 2. Tuệ tư duy, trí tuệ do lý luận (Tư tuệ) (cintā-mayā paññā), 
 3. Tuệ giác, tuệ thực chứng, trí tuệ do tự chứng nghiệm (Tu tuệ) (bhāvanā-mayā paññā). 
 Trong ba tuệ này chỉ có tuệ cuối cùng mới có thể hoàn toàn thanh lọc được tâm; nó được phát huy nhờ tu tập vipassanā- bhāvanā. Trí tuệ là một trong năm sức mạnh của tâm (xem bala), và là một trong mười parami.
 parami / paramita sự hoàn hảo, phẩm hạnh; phẩm chất toàn thiện trong tâm giúp xóa bỏ ngã và do đó đưa tới giải thoát (ba-la-mật). Mười phẩm hạnh là: đóng góp từ thiện (dana), đạo đức (sila), buông bỏ, xuất gia (nekkhamma), trí tuệ (panna), nỗ lực (viriya), nhẫn nhục (khanti), chân thật (sacca), quyết tâm (adhitthana), từ tâm (metta), bình tâm (upekkha).
 paṭicca-samuppāda Chuỗi nhân duyên sinh, chuỗi duyên khởi; nguyên nhân. Tiến trình, bắt đầu bằng vô minh, làm ta khổ hết đời này sang đời khác. 
 puja sùng bái, tôn thờ, nghi thức hoặc nghi lễ tôn giáo. Đức Phật dạy rằng chỉ có một puja đúng cách để tôn vinh Ngài là thực hành giáo lý của Ngài, từ bước đầu cho đến mục đích cuối cùng. 
 punna việc thiện, phẩm hạnh; hành động tốt, nhờ thực hành điều này ta hưởng được hạnh phúc bây giờ và trong tương lai. Đối với một cư sĩ, punna gồm có đóng góp từ thiện (dana), sống một cuộc sống đạo đức (sila), và tu tập thiền (bhavana).
 raga ham muốn (tham). Cùng với dosa và moha, một trong ba tật xấu chính trong tâm. Đồng nghĩa với lobha. 
 ratana nữ trang, châu báu. Ti-ratana: Tam bảo. 
 rupa . vật chất (sắc); . đối tượng của mắt. Xem ayatana, khandha.
 sacca sự thật, sự thật. Bốn Sự Thật Thánh Thiện (Tứ Diệu Đế) (ariya-sacca) là: 
 1. Sự Thật về khổ (dukkha-sacca); 
 2. Sự Thật về nguyên nhân của khổ (samudaya-sacca); 
 3. Sự Thật về sự đoạn diệt khổ (nirodha-sacca); 
 4. Sự Thật về con đường dẫn đến sự đoạn diệt khổ (magga-sacca). 
 sadhu “Lành thay!”, làm giỏi, nói hay. Một cách biểu lộ sự đồng ý, tán đồng.
  samādhi định, làm chủ được tâm. Phần thứ hai trong ba sự tu tập Bát Thánh Đạo (xem magga). Khi tu tập theo đường lối này sẽ đưa tới trạng thái nhập định (jhāna), nhưng không hoàn toàn giải thoát được tâm. Ba loại samadhi là: 
 1. Khanika samādhi, định chốc lát, định từng giây phút một (sát na định); 
 2. Upacara samādhi, cận định; 
 3. Appana samādhi, tập trung hoàn toàn, trạng thái nhập định (jhāna). 
  Trong những loại định này, khanika samādhi là tạm đủ để có thể tu tập vipassanā.
 samana ẩn sĩ, sa môn, du tăng, khất sĩ. Người đã từ bỏ cuộc sống có gia đình. Trong khi một brahamana dựa vào một thần linh để ‘cứu độ’ hoặc giải thoát cho mình, một samana tìm kiếm giải thoát bằng nỗ lực riêng của mình. Do đó từ này có thể áp dụng cho Đức Phật và đệ tử của Ngài là những người sống cuộc đời tu sĩ, nhưng cũng gồm cả những tu sĩ không theo Đức Phật. Samana Gotama (‘Sa môn Gotama ’) là từ thông dụng của những người không phải là đệ tử của Ngài dùng để chỉ Ngài. 
 samatha sự an tĩnh, sự tĩnh lặng. Samatha-bhavana, phát triển an tĩnh, đồng nghĩa với Samadhi. Xem bhavana. 
 sampajana có sampajanna. Xem dưới đây. 
 sampajañña hiểu biết toàn thể hiện tượng tinh thần-vật chất, có nghĩa là có tuệ giác về tính chất vô thường của hiện tượng này ở mức độ cảm giác. 
 saṃsāra vòng luân hồi, tái sinh; thế giới trần tục; thế giới khổ đau (hữu vi). 
 samudaya nảy sinh, nguồn gốc. Samudaya-dhamma, hiện tượng nảy sinh. Samudaya-sacca, Sự Thật về nguồn gốc của khổ, Sự Thật Thứ Hai (Tập Đế) trong Bốn Sự Thật Thánh Thiện (Tứ Diệu Đế). 
 Saṅgha nhóm, cộng đồng thánh nhân, có nghĩa là những người đã chứng nghiệm được nibbāna; tăng đoàn, tăng thân, tăng già, cộng đồng tăng, ni Phật giáo; một thành viên của ariya-saṅgha, bhikkhu-saṅgha hoặc bhikkhuni-saṅgha.
 saṅkhāra (Sanskrit: Samskara) phản ứng của tâm, hình thành (trong tâm), (hành); hành động có dụng ý, phản ứng tinh thần; tạo nghiệp, nghiệp. Một trong năm tập hợp (khandha), cũng là mắt xích thứ hai trong chuỗi nhân duyên sinh (paticca samuppada). Saṅkhāra là kamma, hành động mang lại hậu quả trong tương lai và do đó thực sự có trách nhiệm tạo nên cuộc đời mai sau. 
 saṅkhāra-upekkhā / saṅkhārupekkhā nghĩa đen là bình tâm đối với sankhara. Một giai đoạn trong sự tu tập Vipassana, sẽ đưa đến sự chứng nghiệm được bhāṅga, giai đoạn khi những bất tịnh lâu đời ẩn sâu trong vô thức nổi lên bề mặt của tâm và thể hiện bằng những cảm giác. Bằng cách giữ được sự bình tâm (upekkhā) đối với những cảm giác này, thiền giả không tạo ra saṅkhāra mới và để cho những nghiệp cũ mất đi. Do đó tiến trình từ từ đưa đến sự diệt trừ hết mọi saṅkhāra.
 saññā (trong samyutta-nana, sự hiểu biết bị điều kiện hóa) nhận định, nhận biết, tri giác (tưởng). Một trong năm tập hợp (khandha). Nó thường bị chi phối bởi saṅkhāra trong quá khứ và do đó đưa đến một hình ảnh lệch lạc về sự thật. Trong khi tu tập vipassana, saññā được chuyển thành paññā, sự hiểu biết sự thật đúng như thật. Nó trở thành anicca-saññā, dukkha-saññā, anattā-saññā, asubha-saññā - đó là, sự nhận định về vô thường, khổ, vô ngã, và tính chất hư ảo của vẻ đẹp vật chất. 
 sarana trú ẩn, nương tựa, bảo vệ (quy y). Ti-sarana: nương tựa hay quy y Tam bảo, có nghĩa là nương tựa vào Phật, Pháp Tăng. 
 sati ý thức (niệm). Một phần trong Bát Thánh Đạo (xem magga), cũng là một trong năm sức mạnh (xem bala) và bảy yếu tố thành đạo (xem bojjhanga). Ānāpāna-sati - ý thức về hơi thở. (Quán niệm về hơi thở)
 satipaṭṭhāna Tạo lập ý thức (Tứ Niệm Xứ). Có bốn lĩnh vực tương quan của satipaṭṭhāna: 
 1. Quan sát thân (quán thân) (kāyānupassanā);
 2. Quan sát cảm giác nảy sinh trong người (quán thọ) 
 (vedanānupassanā); 
 3. Quan sát tâm (quán tâm) (cittānupassanā); 
 4. Quan sát nội dung của tâm (quán pháp) (dhammānupassanā)
 Cả bốn phần đều gồm có quan sát cảm giác, bởi vì cảm giác liên quan trực tiếp đến thân cũng như tâm. The MahaSatipatthana Suttana (Digha Nikaya,22), Trường Kinh về Tạo Lập Ý Thức (Đại Niệm Xứ), là nguồn gốc chính về lý thuyết căn bản cho việc tu tập vipassana-bhavana được giảng giải. 

sato ý thức. Sato sampajano; ý thức với sự hiểu biết về tính chất vô thường của toàn thể cấu trúc tinh thần-vật chất, bằng cách quan sát cảm giác. 
 Siddhatha (Sanskrit: Siddhartha) nghĩa đen, ‘người đã hoàn thành nhiệm vụ của mình’. Tên riêng của Đức Phật trong lịch sử. 
 sīla đạo đức, giới; tránh không có những hành động bằng lời nói và việc làm có hại cho mình và cho người. Ba sự tập luyện đầu tiên trong sự tu tập Bát Thánh Đạo (xem magga). Đối với một cư sĩ, sīla được thực hành trong đời sống hằng ngày bằng cách giữ Năm Giới. 
 sotapanna người đã đạt được giai đoạn đầu của bậc thánh (nhập lưu), và đã chứng nghiệm được Nibbana. Xem ariya. 
 sukha hạnh phúc, niềm vui. Trái nghĩa với dukkha.
 sukhuma tinh tế, vi tế. Trái nghĩa olarika. 
 suta-mayā paññā nghĩa đen: trí tuệ đạt được nhờ nghe từ người khác. Tuệ thụ nhận, trí tuệ do học hỏi (văn tuệ). Xem paññā.
 sutava / sutavant được chỉ dạy, người đã được nghe về sự thật, người có sutta-maya-panna (thanh văn). Trái nghĩa assutava.
 sutta bài giảng của Đức Phật hoặc những đệ tử chính của Ngài, kinh Phật. 
 taṇhā nghĩa đen là ‘thèm khát’ (tham ái). Đức Phật chỉ rõ taṇhā là nguồn gốc của khổ (samudaya-sacca) trong bài giảng đầu tiên, “Kinh Chuyển Pháp Luân”, (Dhamma-cakkappavattana Sutta). Trong chuỗi nhân duyên sinh (paticca samuppadaa) Ngài giải thích rằng taṇhā phát nguồn từ sự phản ứng đối với cảm giác trong thân.
  Tathāgata nghĩa đen là ‘đi như thế’ hoặc ‘đến như thế’ (Như Lai). Người nhờ đi trên con đường của sự thật đã đạt được sự thật tối hậu, có nghĩa là một người giác ngộ. Danh xưng Đức Phật thường dùng để tự xưng. 
 Theravāda nghĩa đen là ‘giáo lý của bậc trưởng lão’. Giáo lý của Đức Phật, trong đường lối đã được bảo trì tại các nước ở Đông Nam Á (Miến Điện, Tích Lan, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia). Thường được công nhận là giáo lý theo đường lối cổ xưa nhất (Phật Giáo Nguyên Thủy). 
 ti-lakkhana xem lakkhana.
 Tipiṭaka (Sanskrit: Tripiṭaka) nghĩa đen, ba kho chứa (Tam tạng). Ba bộ sưu tập về giáo lý của Đức Phật là: 
 1. Vinaya-piṭaka, tạng Luật, bộ sưu tập về giới luật cho tăng, ni 
 2. Sutta-piṭaka, tạng Kinh, bộ sưu tập những bài giảng; 
 3. Abhidhamma-piṭaka, tạng Luận, bộ sưu tập những giáo lý cao hơn, nghĩa là sự bình luận về Dhamma một cách triết lý và có hệ thống. (Sanskrit Tripitaka).
 Ti-ratana xem ratana
 Udaya nảy sinh, sinh, khởi. Udayabbaya, sinh và diệt, nghĩa là vô thường (cũng là udaya-Vaya). Hiểu biết thực nghiệm về sự thật này đạt được bằng cách quan sát sự thay đổi không ngừng của cảm giác trong chính mình.
 upadana dính mắc, bám chấp, ràng buộc, giữ chặt (thủ). 
 upekkha bình tâm, (xả); trạng thái của tâm không còn ham muốn, ghét bỏ, vô minh. Một trong bốn trạng thái thuần khiết của tâm. (xem Brahma-vihara), trong bảy nhân tố giác ngộ (xem bojjhanga), và mười parami. 
 uppada xuất hiện, nảy sinh, sinh. Uppada-vaya, sinh và diệt. Uppada-vaya-dhammino, có bản chất của sinh và diệt. 
 vaya /vyaya hủy diệt, tan rữa. Vaya-dhamma hiện tuợng hủy diệt.
 vedanā cảm tưởng/cảm giác (thọ). Một trong năm tập hợp (khandha). Đức Phật mô tả, vì gồm cả tinh thần lẫn vật chất; do đó vedana cho ta phương tiện khảo sát toàn thể hiện tượng tâm lý-vật lý. Trong chuỗi Duyên khởi (paṭicca-samuppāda), Đức Phật giải thích rằng tanha, nguồn gốc của khổ, nảy sinh do phản ứng đối với vedanā. Bằng cách biết quan sát vedanā một cách khách quan ta có thể tránh khỏi bất cứ phản ứng mới nào, và có thể trực nghiệm trong bản thân sự thật về vô thường (anicca). Sự chứng nghiệm này tối quan trọng để phát triển sự buông xả, đưa đến giải thoát cho tâm. 
 vedanānupassanā quan sát cảm giác trong thân. Xemsatipaṭṭhāna. 
 viññāṇa thức, sự hay biết. Một trong năm tập hợp (khandha). 
 vipassanā quan sát nội tâm, (minh sát), tuệ giác thanh lọc được tâm; đặc biệt tuệ giác về bản chất vô thường, khổ, vô ngã của cấu trúc tâm lý-vật lý. Vipassanā-bhāvanā, phát triển tuệ giác một cách có hệ thống nhờ phương pháp thiền quan sát sự thật nội tâm bằng cách quan sát cảm giác trong thân.
 viveka khách quan, vô tư; tuệ phân biệt. 
 yathā-bhūta nghĩa đen, ‘đúng như thật.’ Thực tế hiện hữu, thực tại. 
 yathā-bhūta-ñāṇa-dassana, hiểu biết-nhận ra sự thật đúng như thật.



 Kỹ Thuật Thiền Cổ Xưa Mang Lại Sự Bình An Đích Thực Cho Tâm

 Vipassana-bhavana, “sự phát triển tuệ giác”, là tinh túy trong giáo huấn của Đức Phật. Con đường này do Thiền sư S.N. Goenka dạy, dẫn đến sự tự ý thức, rất đặc biệt vì tính chất giản dị, không có tính cách giáo điều, và nhất là có kết quả. Phương pháp Vipassana có thể áp dụng thành công cho bất cứ người nào.
 Cuốn sách “Nghệ Thuật Sống” này đã được viết dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thiền sư S.N. Goenka, dựa trên những bài giảng và những bài viết của thiền sư. Cuốn sách trình bày kỹ thuật này có thể được dùng như thế nào để giải quyết các vấn đề, để phát triển khả năng không được dùng tới, và để sống một cuộc sống an bình và phong phú. Những mẩu chuyện và những lời giải đáp thắc mắc cho các thiền sinh của Thiền sư S.N. Goenka đã truyền đạt được ý nghĩa sống động của điều ông dạy.
 Những khóa thiền Vipassana của Thiền sư S. N. Goenka đã lôi cuốn hàng ngàn người thuộc đủ mọi thành phần. Thiền sư S. N. Goenka, độc nhất trong số các thiền sư, là một kỹ nghệ gia và là một cựu lãnh tụ của cộng đồng Ấn Độ ở Miến Điện. Mặc dầu chỉ là một cư sĩ, sự giảng dạy của ông đã được các vị cao tăng ở Miến Điện, Ấn Độ, và Tích Lan chấp nhận, và một số trong các vị này đã theo các khóa học dưới sự chỉ dẫn của ông. Dù ông có sức lôi cuốn, nhưng ông không có ý muốn là một “guru” (đạo sư). Trái lại, ông chỉ dạy người ta phải tự mình có trách nhiệm đối với chính mình. Cuốn sách này là tài liệu đầu tiên được hệ thống hóa, được viết bằng Anh ngữ.
 Tác giả, William Hart, học thiền Vipassana được nhiều năm. Từ năm 1982, ông làm thiền sư phụ tá cho Thiền sư S. N. Goenka, hướng dẫn các khóa thiền ở phương Tây.



 GIỚI THIỆU VỀ VIPASSANA

Các khóa thiền Vipassana theo sự giảng dạy của Thiền sư S. N. Goenka thuộc truyền thống Sayagyi U Ba Khin được tổ chức thường xuyên tại nhiều quốc gia trên khắp thế giới. 

Để có thêm thông tin và lịch tổ chức các khóa thiền trên toàn cầu cũng như mẫu đơn đăng ký tham dự, vui lòng ghé thăm website: www.dhamma.org

Giấy phép Creative Commons

Hiện tại Ducbinh.top cung cấp dịch vụ:
✅ Tạo địa điểm google map, đưa thương hiệu bạn lên bản đồ.

Bài Liên Quan



Một số lưu ý khi bình luận

Mọi bình luận sai nội quy sẽ bị xóa mà không cần báo trước (xem nội quy)

Bấm Thông báo cho tôi bên dưới khung bình luận để nhận thông báo khi admin trả lời

Để thêm biểu tượng cảm xúc hãy xem Bảng Mã trước nhé