Dhammapada - Con đường của Phật - Tập 10 - Osho

Chương 13. Tôn giáo là bài ca, thơ ca, điệu vũ của trái tim bạn

Chương 13. Tôn giáo là bài ca, thơ ca, điệu vũ của trái tim bạn

Dhammapada: Con đường của Phật
The Dhammapada: The way of the buddha
Osho
Tập 10


Chương 13. Tôn giáo là bài ca, thơ ca, điệu vũ của trái tim bạn


Câu hỏi thứ nhất:

Thưa Thầy kính yêu,

Thầy có cải tâm mọi người sang tôn giáo của riêng thầy không?

Christina, tôi không có tôn giáo nào hết cả: có một loại tính tôn giáo nào đó, nhưng không có tôn giáo nói riêng. Đó là lí do tại sao lại dễ thế cho tôi hấp thu Jesus, Phật, Lão Tử, Zarathustra, Moses, Mohammed, Mahavira. Nếu như tôi có tôn giáo, thế thì tôi sẽ không thể nào phổ quát được như vậy.

Có tôn giáo nghĩa là trở nên bị giới hạn. Có tôn giáo nghĩa là bạn đã định nghĩa cuộc sống, bạn đã làm ra giáo điều từ cuộc sống, bạn đã giải bí ẩn của nó. Nó không còn vô hạn nữa; nó không còn là không biết nữa, không thể biết nữa. Bạn đã thu nó lại thành hệ thống ý nghĩ.

Toàn thể nỗ lực của tôi ở đây là để làm tan chảy mọi hệ thống ý nghĩ, làm tan chảy tâm trí của bạn, cái đã trở thành lạnh như băng, đông cứng thành định kiến, để cho một loại hơi ấm mới bao quanh trái đất. Nó sẽ là một loại tính tôn giáo - một cảm giác mơ hồ, không phải là ý nghĩ xác định. Bạn có thể kinh nghiệm nó, nhưng bạn không thể giải thích được nó. Nó sẽ không giống như hoa, nó sẽ giống hương hoa nhiều hơn. Nếu bạn không bị lạnh bạn sẽ có khả năng cảm thấy nó, hương thơm. Và cái đầu của mọi người lại quá đầy sự lạnh lẽo; họ chịu từ cái lạnh, họ đã trở nên bị đông cứng. Người này là người Hindu, người khác là người Ki tô giáo.

Đó là nghĩa của cái tên của bạn, Christina: Một Christ.

Là một Christ và đừng bao giờ là người Ki tô giáo! Là vị phật, đừng bao giờ là phật tử! Điều đó đang làm lắng đọng rác rưởi. Khi bạn có thể tự mình kinh nghiệm chân lí, sao còn lắng đọng cho tri thức thứ cấp? Mọi tôn giáo đều là tri thức thứ cấp.

Khi thầy còn sống, thầy có bầu khí hậu nào đó, không có hoài nghi gì về điều đó, một bầu không khí nào đó bao quanh thầy, nơi mọi người bắt đầu trưởng thành - trưởng thành trong bản thân họ. Điều đó là cải tâm đúng. Cải tâm không có nghĩa là người Hindu trở thành người Ki tô giáo hay người Ki tô giáo trở thành người Hindu; điều đó không phải là cải tâm. Điều đó đơn giản là đổi từ nhà tù này sang nhà tù khác, chuyển từ hệ thống tư tưởng chết này sang hệ tư tưởng chết khác - nhưng bạn vẫn còn như cũ.

Cải tâm nghĩa là thay đổi triệt để trong bản thể bạn. Vấn đề không phải là thay đổi ý thức hệ của bạn, vấn đề là thay đổi tâm thức bạn. Theo nghĩa đó, mọi người chắc chắn đang được cải tâm. Và tôi không cải tâm họ, họ cho phép bản thân mình được cải tâm. Nhớ lấy sự khác biệt đó. Tôi không quan tâm tới việc cải tâm bất kì ai; tôi đơn giản tạo ra không gian sẵn có cho những người muốn trải qua cuộc cách mạng này. Họ có thể trải qua cuộc cách mạng này. Tôi không cố gắng một cách trực tiếp hay gián tiếp làm bạn thành một phần của bất kì tôn giáo nào.

Mới hôm nọ tôi có đọc... ai đó đã viết - một người Hindu - rằng tôi đang cải tâm mọi người sang Jaina giáo bởi vì tôi được sinh trong tôn giáo của người Jaina. Và người Jaina nghĩ rằng tôi đang cải tâm người Jaina vào tôn giáo của người Hindu bởi vì mầu da cam là mầu của người Hindu - cứ dường như mầu sắc cũng có thể có tính chất Hindu hay Mô ha mét giáo! Và người Ki tô giáo đã viết thư cho tôi, viết các bài báo chống lại tôi, rằng tôi đang cải tâm người Ki tô giáo sang Hindu giáo. Đó là một thế giới rất kì lạ! Người Ki tô giáo nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Hindu giáo, người Hindu nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Jaina giáo, người Jaina nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Hindu giáo, người Mô ha mét giáo nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang Phật giáo và Phật tử nghĩ tôi đang cải tâm bạn sang cái gì đó khác.

Tôi không cải tâm bạn sang bất kì hệ thống tư tưởng có tổ chức nào, trực tiếp hay gián tiếp. Tôi không quan tâm tới điều đó chút nào. Nhưng chắc chắn tôi đang làm ra một chiều hướng sẵn có cho bạn. Nếu bạn quan tâm đi vào qua cuộc cách mạng, bạn có thể đi. Nếu bạn có can đảm và dũng cảm bạn có thể có tâm thức mới.

Nhưng tôi có thể hiểu được câu hỏi này, đặc biệt từ một người Ki tô giáo, bởi vì người Ki tô giáo đã từng làm kinh doanh này trên khắp trái đất trong hàng thế kỉ, theo mọi cách có thể được, đúng hay sai. Nếu mọi người không thể được cải tâm bằng việc thuyết phục họ, thì cải tâm họ bằng lưỡi kiếm. Nếu kiếm đã trở thành lạc hậu và trông xấu, thì cải tâm họ bằng tiền, bằng bánh mì và bơ. Mọi người đều nghèo và chết đói.

Ở Ấn Độ tôi chưa bao giờ bắt gặp một gia đình giầu đã trở thành người Ki tô giáo. Chỉ người rất nghèo người bao giờ cũng trên bờ vực của chết vì đói mới trở thành người Ki tô giáo. Lí do không phải là vì họ quan tâm tới Christ; họ đơn giản quan tâm tới việc sống sót - và các nhà truyền đạo Ki tô giáo có tiền. Họ có thể cho những người này tiền, việc làm, quần áo, thuốc men, bệnh viện. Và khi đó là vấn đề sống còn, ai bận tâm về tôn giáo? Bạn thuộc vào tôn giáo nào cũng chẳng thành vấn đề - yêu cầu đầu tiên là sống còn. Cho nên ở Ấn Độ mọi người nghèo, người rất nghèo đều đã được cải tâm. Đây là cải tâm họ bằng hối lộ. Bây giờ thay vì dùng lưỡi kiếm, một phương pháp luận rất tinh vi đang được dùng để cải tâm họ.

Nhưng tôi không quan tâm tới việc cải tâm bất kì ai. Tôi yêu Jesus cũng nhiều như tôi yêu Phật bởi vì tôi không thấy khác biệt gì. Cả hai đều có tính tôn giáo bởi vì cả hai đều đã thức tỉnh. Không có khác biệt chút nào giữa tất cả những người đã thức tỉnh. Nhưng nhà thờ đã không quan tâm tới việc thức tỉnh hay người thức tỉnh; mối quan tâm của họ là về số người, và họ dùng mọi cách có thể, trực tiếp, gián tiếp, thô thiển và tinh vi để cải tâm mọi người.

Do đó, Christina này, câu hỏi này đã nảy sinh trong tâm trí bạn: có thể tôi đang làm cái gì đó giống như các nhà truyền giáo Ki tô giáo. Tôi không phải là nhà truyền giáo đâu.

Ông và bà Chotnik đã hi vọng rằng con trai họ, Stanley, sẽ theo con đường của cách thức chính thống riêng của họ và theo đuổi giáo dục cao hơn tại đại học Yeshiva. Thay vào đó, mặc cho mối quan tâm nhiều của họ, anh ta đã vào trường cao đẳng Ki tô giáo. Nhưng khi anh ta trở về nhà vào kì nghỉ hè, họ được nhẹ nhõm rất nhiều khi thấy rằng nỗi lo sợ của họ đã không có cơ sở. Stanley đã không từ bỏ niềm tin do tổ tiên truyền lại, anh ta đã không bị cải tâm, anh ta đã không, điều đó là rõ ràng, bị ảnh hưởng dù theo cách nhỏ nhặt nhất bởi môi trường phi Do Thái của mình. Thực tế, vào chính ngày thứ sáu tiếp, anh ta sẵn sàng đồng ý đi cùng họ tới giáo đường.

Tối hôm đó, tại gần buổi lễ ngày nghỉ shabbes, giáo sĩ, một ông bạn già của gia đình Chotnik, đón chào cậu sinh viên trẻ với nụ cười lớn. 'Thật hay lại được gặp cậu ở đây trong ngôi đền này, Stanley,' giáo sĩ nói, lắc tay cậu thanh niên. 'Nói thẳng, cha mẹ cậu và tôi đã sợ cậu có thể bị thành người Cơ đốc giáo ở đó tại South Bend.'

Lông mày của Stanley nhướn lên trong ngạc nhiên. 'Không thể được!' anh ta tuyên bố. 'Không ai đã bao giờ cải tâm cháu, thưa cha.'

Có những cách tinh vi để cải tâm. Người bị cải tâm không trở nên nhận biết chút nào về điều xảy ra. Bạn cứ ước định người đó, dần dần, dần dần. Bạn cứ lặp lại sách phúc âm và dần dần, dần dần không có nhận biết của người đó, tâm trí người đó trở nên đầy tất cả những điều đã từng được lặp lại. Người đó bị ước định. Đó là quá trình thôi miên.

Nỗ lực của tôi ở đây là chính điều đối lập lại: nó là quá trình giải thôi miên, giải ước định. Tôi giải ước định bạn, dù bạn là bất kì ai, người Ki tô giáo, người Hindu, người Mô ha mét giáo. Tôi đơn giản giải ước định bạn và thế rồi tôi để điều đó cho bạn để bạn có thể là bản thân mình. Tôi không ước định lại bạn lần nữa. Tôi dừng lại với việc giải ước định để cho bạn được tự do khỏi hình mẫu cũ, khỏi động thái cũ mà đã từng bị áp đặt lên bạn. Một khi bạn được tự do thì công việc của tôi được kết thúc. Thế thì bạn có thể trưởng thành theo cách riêng của bạn theo ánh sáng riêng của bạn, theo nhu cầu bên trong riêng của bạn. Từng cá nhân đều có quyền tập ấn là bản thân mình.

Thế giới này không cần người Ki tô giáo, người Hindu và người Mô ha mét giáo; nó chắc chắn cần người tôn giáo. Và tôi ngụ ý gì khi tôi dùng từ 'người tôn giáo'? Tôi ngụ ý những người nhận biết rằng thế giới này không chỉ là vật chất, rằng thế giới này là cái gì đó hơn nữa, cái gì đó thêm nữa. Nó không kết thúc với vật chất; vật chất chỉ là chu vi: tâm thức là ở trung tâm. Và điều này là có thể chỉ khi bạn kinh nghiệm tâm thức ở trung tâm riêng của mình; thế thì bạn có thể kinh nghiệm tâm thức ở mọi nơi. Khi bạn bắt đầu cảm thấy tâm thức ở mọi nơi bạn đã bắt gặp tính thượng đế. Kinh nghiệm này là tôn giáo.

Tôi chắc chắn quan tâm tới việc đưa bạn vào trong kinh nghiệm bao la này, nhưng bạn phải tới theo cách riêng của bạn. Bạn phải tới nó mà không có niềm tin nào, định kiến nào - cởi mở, mong manh, sẵn sàng nhìn cái đang đó, thay vì phóng chiếu cái phải thế. Tôi không cho bạn bất kì cái phải và cái không phải nào, tôi không cho bạn bất kì lời răn nào. Tôi đơn giản giúp bạn như người làm vườn giúp hạt mầm. Đấy không phải là làm ra hoa sen từ bụi hồng hay ngược lại. Người làm vườn giúp cho hoa hồng là hoa hồng và hoa sen là hoa sen. Bất kì cái gì là tiềm năng của bạn, bạn phải là cái đó.

Tôi không ở đây để quyết định bạn phải là cái gì; tôi chỉ có thể cho bạn hướng dẫn cách trưởng thành vào trong bản thể riêng của bạn. Và đó là cách một người trở thành một Jesus, một Phật, một Zarathustra.

Câu hỏi thứ hai:

Thưa Thầy kính yêu,

Phương Tây quá đông đúc các nhà trị liệu tâm lí và bệnh nhân của họ, nhưng sao không ai dường như được giúp đỡ?

Patrick, giúp đỡ là có thể chỉ qua vị phật. Giúp đỡ là có thể chỉ qua người đã thức tỉnh.

Các nhà trị liệu tâm lí cũng ngủ như bạn vậy; họ ở trong cùng một con thuyền. Không có khác biệt về chất giữa bạn và họ - thực tế họ có thể còn điên khùng hơn bạn. Họ có thể còn trong đống lộn xộn hơn bạn bởi vì họ thường xuyên phải giải quyết với người điên; hết ngày nọ tới ngày kia, họ bị bao quanh bởi người điên. Thay vì giúp người điên trở nên lành mạnh, chính điều đối lập xảy ra: thường xuyên tiếp xúc với người điên, dần dần, dần dần tự bản thân họ trở nên điên.

Điều này là tự nhiên. Họ chưa có nhận biết đó, điều có thể vẫn còn tách rời, không bị ảnh hưởng. Họ không có khoảng cách đó, sự bình thản đó, sự tách rời đó. Họ không sống trên đỉnh ánh sáng mặt trời; họ đang dò dẫm trong thung lũng tăm tối nơi bạn cũng đang dò dẫm. Họ mù như bạn mù, nhưng họ phải giả vờ rằng họ không mù - và điều đó còn nguy hiểm hơn.

Nếu một người mù và biết rằng mình mù và chưa bao giờ giả vờ khác đi, có mọi khả năng người đó sẽ bước đi thận trọng hơn. Nếu người đó giả vờ rằng người đó không mù, nếu người đó phóng chiếu rằng người đó không mù, nếu người đó thuyết phục người khác rằng người đó không mù, dần dần, dần dần người đó sẽ bị thôi miên bởi lời nói của riêng mình, tự thôi miên. Người đó sẽ bắt đầu tin rằng người đó không mù và người đó sẽ bắt đầu bước đi kém cẩn trọng. Và điều đó còn nguy hiểm hơn.

Tôi đã nghe:

Có lần một người mù tới thăm một Thiền sư. Khi người này ra về - lúc đó là đêm, đêm tối, không trăng, và nhiều mây thế - thầy nói với người mù, 'Cầm chiếc đèn này đi theo ông.'

Người mù này cười to. Người đó nói, 'Thầy có đùa không đấy? Cái đèn giúp gì cho tôi? Tôi không thể nhìn được! Dù tôi có đèn hay không thì cũng vậy cả thôi.'

Nhưng thầy nói, 'Điều đó ta biết, rằng ông không thể thấy được, nhưng ít nhất người khác sẽ có khả năng nhìn trong bóng tối rằng ông đang tới cho nên họ sẽ không đâm quàng vào ông.'

Biện luận này có vẻ đúng. Người mù cầm chiếc đèn, ra đi. Anh ta mới đi được trăm bước thì một người đâm sầm vào anh ta. Anh ta nói, 'Có chuyện gì thế? Anh cũng mù sao? Anh không thể thấy được chiếc đèn này à?'

Nhiều nhà trị liệu tâm lí phát điên hơn bất kì nghề nào khác và nhiều nhà trị liệu tâm lí tự tử hơn bất kì nghề nào khác. Và điều đó là tự nhiên. Sống cùng người điên, người ta có thể hiểu được - họ trở nên bị nhiễm.

Vài cảnh sẽ giúp cho bạn....

Và người kia nói, 'Tôi không mù. Tôi xin lỗi, nhưng đèn của ông có thắp đâu; lửa của nó tắt rồi.'

Người mù này quay trở lại với Thiền sư và nói, 'Thầy trông đấy, đừng bao giờ đưa đèn cho người mù khác nữa. Nếu không có đèn tôi đã bước đi thận trọng hơn. Tôi bao giờ cũng bước đi thận trọng. Bởi vì có đèn tôi bước đi cứ dường như tôi không còn mù nữa - và chiếc đèn tắt ngấm. Nhưng làm sao tôi biết rằng chiếc đèn tắt rồi? Bởi vì chiếc đèn này, lần đầu tiên tôi đã bị một người làm bị thương. Bằng không, tôi đã bước đi cả đời mình trong mọi tình huống có thể, nhưng bởi vì tôi thận trọng thế, bao giờ cũng làm tiếng động với chiếc gậy trên đường nên mọi người có thể cảm thấy rằng người mù nào đó có đó, bao giờ cũng dò dẫm bằng chiếc gậy trong bóng tối nên tôi biết tôi ở đâu, tôi đang đối diện với tường hay cửa.... Đó là lần đầu tiên tôi bước đi mà không sợ gì.'

Và đó là điều đang xảy ra cho các nhà trị liệu tâm lí của bạn đấy, Patrick. Họ nghĩ họ biết - họ chẳng biết gì. Họ được thông tin nhiều, nhưng thông tin không phải là việc biết. Họ được giáo dục tốt, nhưng họ đã không có bản thể cao hơn bạn. Và giúp đỡ là có thể chỉ khi ai đó cao hơn bạn chìa tay cho bạn.

Cảnh thứ nhất:

Một người bước vào văn phòng của nhà tâm thần. 'Ông phải giúp tôi!' anh ta kêu lên.

'Ông làm gì để sống?' bác sĩ tâm thần hỏi. 'Tôi là thợ cơ khí ô tô.'

'Chui xuống dưới gầm tràng kỉ!'

Cảnh thứ hai:

Nhà tâm thần thứ nhất: 'Xin chào!'

Nhà tâm thần thứ hai: 'Tôi tự hỏi ông ngụ ý gì bởi điều đó?'

Cảnh thứ ba:

Bệnh nhân: 'Tất nhiên tôi bực mình, bác sĩ. Tôi có mười một đứa con và tôi thấy chồng tôi không yêu tôi.'

Bác sĩ: 'Bà rất may mắn đấy. Tưởng tượng xem nếu ông ấy yêu thì sao!'

Cảnh thứ tư:

'Bác sĩ ơi, vợ tôi buộc tội tôi là kẻ chơi bài ép buộc.'

'Điều đó thật nực cười. Bây giờ câm đi và giải quyết đi!'

Và cảnh thứ năm:

'Bác sĩ ơi, bởi vì bác sĩ đã chữa khỏi cho tôi xu hướng đồng dục và vì đây là phiên cuối cùng của chúng ta, tôi có thể hôn bác sĩ để chào tạm biệt được không?'

'Đừng có lố bịch - đàn ông không hôn. Tôi đáng phải không nằm trên cùng tràng kỉ với anh!'

Bạn hỏi tôi, Patrick, 'Phương Tây quá đông đúc các nhà trị liệu tâm lí và bệnh nhân của họ, nhưng sao không ai dường như được giúp đỡ?'

Giúp đỡ là có thể chỉ từ nguồn cao hơn. Người trên cùng mảnh đất như bạn không thể giúp gì được bạn. Giúp đỡ là có thể chỉ khi một người ý thức đầy đủ cố gắng giúp cho người vô ý thức. Cũng dường như bạn đang ngủ; bạn có cho rằng ai đó khác đang ngủ có thể giúp bạn theo bất kì cách nào được không? Chỉ ai đó thức mới có thể đánh thức bạn được. Nếu bạn muốn được thức dậy vào một giờ đặc biệt, bạn không nói với ai đó khác còn đang ngủ, 'Xin hãy thức tôi dậy lúc năm giờ sáng. Tôi phải đi tập Thiền Động phải gió đó!' Bạn phải nhờ ai đó thức chứ. Chỉ ai đó thức mới có thể đánh thức bạn được. Thực tế, người đang ngủ có thể giúp bạn rơi vào giấc ngủ sâu hơn.

Bạn có thể đã quan sát điều đó xảy ra. Nếu vài người đang ngồi ngay cạnh bạn mà ngáp, bạn bắt đầu cảm thấy buồn ngủ. Họ tạo ra rung động nào đó; họ tạo ra bầu không khí nào đó mà trong đó bất kì ai mong manh cũng sẽ bắt đầu cảm thấy tốt hơn cả là đi ngủ.

Cùng điều đó xảy ra với người thức tỉnh: vị phật tạo ra rung động hoàn toàn khác. Ông ấy lay bạn dậy, ông ấy đánh thức bạn dậy. Ông ấy cứ gây choáng cho bạn theo nhiều cách; ông ấy tìm ra phương cách để gây choáng cho bạn.

Kavita đã hỏi, 'Thưa Thầy kính yêu, thỉnh thoảng thầy dùng những lời tới mức tôi cảm thấy choáng - và tôi hay nghĩ rằng không lời nào bao giờ có thể gây choáng cho tôi được. Thầy không có lời nào dịu sao?'

Kavita, tôi sẽ cứ dùng những lời này chừng nào bạn còn chưa thức dậy. Bạn thích nghe điệu ru con - nhưng bài ru con sẽ không ích gì. Cái hấp dẫn bạn, cái bạn thích sẽ không giúp ích gì cả. Cái gì đó gây choáng cho bạn.... Tôi sẽ dùng những lời dữ dội cho tới khi bạn dừng ngáp.

Bất kì khi nào tôi thấy ai đó ngáp ở đâu đó, lập tức tôi phải nói cái gì đó gây choáng cho bạn - và tôi có thể thấy cái ngáp của người đó biến mất. Khoảnh khắc tôi nói 'chuyện nhảm nhí' - lập tức khi tôi nói điều đó người đó dừng ngáp! Xương sống người đó dựng thẳng dậy, kundalini của người đó vươn lên!

Chừng nào tất cả các bạn còn chưa thức tỉnh tôi sẽ không để các bạn yên đâu; tôi sẽ cứ đánh bạn theo đủ mọi cách có thể.

Giúp đỡ là có thể, Patrick này, chỉ từ người đã thức tỉnh. Bạn không cần các nhà trị liệu tâm lí, bạn cần chư phật.

Thứ hai: bạn đi tới nhà trị liệu tâm lí, nhưng bạn không thực sự muốn được giúp đỡ. Bạn có đầu tư lớn vào bệnh hoạn của mình.

Lại thêm vài cảnh.

Cảnh thứ nhất:

'Bác sĩ ơi, vợ tôi nghĩ cô ấy là tủ lạnh.' 'Sao anh không li dị cô ấy?'

'Tôi muốn đấy nhưng tôi cần đá.'

Cảnh thứ hai:

'Bác sĩ ơi, con gái tôi nghĩ nó là thỏ.'

'Đem nó tới đi. Tôi sẽ xem tôi có thể làm gì.' 'Được, nhưng bất kì điều gì xảy ra, tôi hi vọng ông không chữa lành cho nó.'

Không ai muốn thực sự được giúp. Mọi người chỉ chơi trò chơi. Họ đi tới nhà phân tâm với hi vọng rằng ông ta không thể làm gì được, rằng ông ta sẽ không thực sự thay đổi họ. Không ai muốn bị thay đổi; mọi người đều muốn vẫn còn như mình vẫn vậy. Bạn đã trở nên quen thuộc thế với khổ của mình, với bệnh hoạn của mình... nó là cuộc sống của bạn, nó là cách thức cuộc sống của bạn.

Nếu bạn muốn được thay đổi bạn sẽ tìm thầy, không tìm nhà trị liệu tâm lí.

Câu hỏi thứ ba:

Thưa Thầy kính yêu,

Có chân lí nào trong triết lí về bất tử thân thể, điều nói rằng chính là niềm tin của chúng ta vào sự không tránh khỏi của cái chết mới tạo ra tuổi già, bệnh tật và cái chết? Ý nghĩ của chúng ta biểu lộ ra kết quả tới mức độ nào?

John Fisant, con người sợ chết; do đó con người cứ tạo ra đủ loại ý tưởng ngu xuẩn. Bất tử thân thể là cực kì vô nghĩa bởi vì cái gì bắt đầu đều nhất định kết thúc. Bất tử thân thể là có thể chỉ nếu bạn không được sinh ra qua cha mẹ mà được chế tạo trong xưởng máy. Nếu bạn được làm bằng nhựa, nếu bạn không là người thực, thế thì có khả năng. Nhựa dường như là thứ bất tử duy nhất.

Cho nên nếu bạn không có da mà thay vào đó là nhựa, nếu bạn không có máu thực mà là máu tổng hợp mà bạn có thể thay đổi bất kì lúc nào - bạn có thể tới máy bơm xăng - và mọi thứ bạn có trong thân thể - xương, khớp, mọi thứ - là thay thế được để cho bất kì khi nào có vấn đề nào đó, mọi thứ có thể được thay thế; bạn chỉ phải thay vài bộ phận và các bộ phận đều sẵn có.... Bạn có thể phải tới ga ra một chốc; vài thứ có thể phải tháo ốc ra và vặn vít lại. Thế thì bạn có thể bất tử thân thể - nhưng thế thì bạn sẽ không là người, bạn sẽ là máy.

Nếu bạn được sinh ra bạn nhất định chết. Vâng, có thể cuộc sống của bạn có thể được kéo dài ra - cuộc sống đã được kéo dài ra. Khi y học đã tiến hoá, khi công nghệ khoa học đã tới giúp con người, khi chúng ta trở nên ngày một nhận biết về các bí mật của cuộc sống, cuộc sống đã được kéo dài ra. Nó có thể được kéo dài từ bẩy mươi năm tới bẩy trăm năm, nhưng thế nữa bạn sẽ không bất tử thân thể đâu.

Và tôi không nghĩ nhiều người sẽ thích sống bẩy trăm năm; ngay bẩy mươi năm cũng quá nhiều rồi! Mọi người bắt đầu nghĩ sau một thời gian, 'Bây giờ chết đi chắc tốt hơn.' Cái chết là giảm nhẹ, thảnh thơi. Mọi thứ đều muốn nghỉ; cái chết là đi vào trong nghỉ ngơi. Thân thể bạn cũng bị mệt mỏi, vật chất cũng bị mệt mỏi. Nó muốn quay lại cội nguồn nguyên thuỷ của nó: nước về trong nước và khí về trong khí và đất về trong đất và lửa về trong lửa. Mọi thứ đều muốn trở lại cội nguồn của nó để nghỉ ngơi, để làm khoẻ lại bản thân nó, và quay lại lần nữa. Nhưng con người bao giờ cũng thích thú với những ý tưởng này - bất tử thân thể. Và không phải là người thường đâu, ngay cả người được coi là phi thường, họ cũng cứ có những ý tưởng ngu xuẩn thế.

Sri Aurobindo và mẹ của Sri Aurobindo cả hai đều tin vào bất tử thân thể - và cả hai đều đã chết! Khi Sri Aurobindo chết không ai tin vào điều đó, bởi vì tất cả các đệ tử những người đã tụ tập ở đó đều đã tụ tập lại với lí do đơn giản là ông ấy biết bí mật của bất tử thân thể và bằng việc là đệ tử của ông ấy họ sẽ trở nên bất tử thân thể. Làm sao họ có thể tin được rằng ông ấy đã chết?

Trong ba ngày người ta giữ bí mật rằng ông ấy đã chết. Họ chờ đợi: ông ấy có thể đang trong đại định (samadhi) sâu, ông ấy có thể quay lại. Nhưng sau ba ngày khi họ không thấy dấu hiệu nào của việc ông ấy quay lại và thân thể ông ấy bắt đầu bốc mùi, thế thì họ phải đi chôn nó. Thế rồi họ hi vọng rằng người mẹ sẽ bất tử. Bà ấy sống cuộc sống lâu, nhưng cuộc sống lâu không có nghĩa là bất tử thân thể. Khi bà ấy chết, họ lại bị choáng. Toàn thể triết lí của họ bị lẫn lộn bởi cái chết của hai người này.

Nhưng một điều là tốt về cái chết: bây giờ bạn không thể hỏi Sri Aurobindo, 'Sao ông đã từng nói cả đời ông rằng bất tử thân thể là có thể, rằng ông biết bí mật đó, rằng ông có khả năng đem Thượng đế vào thế giới vật lí?'

Nhưng những kẻ ngu tụ tập lại. Người ngu bao giờ cũng trở nên bị hấp dẫn tới những điều lạ. Ngay sâu bên dưới nỗi sợ có đó - không ai muốn chết. Tại sao? Tại sao ngay chỗ đầu tiên bạn sợ chết? Chết không phải là kẻ thù. Với người đã sống thực sự, cái chết là người bạn. Nó giống như ngủ. Không ai muốn vẫn còn thức hai mươi bốn giờ một ngày.

Có vài người nghĩ rằng giấc ngủ cũng chỉ là thói quen cũ và họ cố gắng giảm nó xuống. Trong hàng thế kỉ họ đã cố gắng. Vâng, nó có thể bị giảm đi, nó có thể bị giảm xuống hai giờ bởi vì hai giờ là giấc ngủ bản chất; bạn cũng ngủ chỉ hai giờ theo cách ngủ sâu. Đâu đó ở giữa hai và bốn giờ hay ba và năm giờ bạn ngủ hai giờ rất sâu; đó là những khoảnh khắc làm tươi lại. Mọi mơ biến mất, bạn gần như chết. Do đó người cổ đại hay nói giấc ngủ là cái chết nhỏ. Nhưng mọi người cũng đã cố gắng tránh giấc ngủ.

Logic là: nếu bạn có thể tránh ngủ thì một ngày nào đó bạn có thể tránh cả cái chết nữa. Nếu giấc ngủ là cái chết nhỏ và bạn đã chinh phục được giấc ngủ, bạn sẽ có khả năng chinh phục giấc ngủ lớn, cái chết nữa. Nhưng tại sao? Cái gì sai trong việc chết? Những người sợ chết là những người đã chưa thực sự sống cuộc sống của họ. Họ không sợ chết, họ đơn giản sợ rằng họ đã chưa sống và cái chết đã tới.

Thay vì nghĩ tới bất tử thân thể, nghĩ tới sống cuộc sống của bạn một cách toàn bộ đi. Trong khi bạn đang ở đây, sống cuộc sống của bạn trong sự giầu có đa chiều. Và thế thì khi cái chết tới bạn sẽ cảm thấy nó như cao trào, như đỉnh, như điều tối thượng - cuộc sống đạt tới đỉnh cao nhất - và bạn sẽ tận hưởng cái chết nhiều như bạn đã tận hưởng cuộc sống. Bạn sẽ hoàn toàn được thoả mãn với cái chết bởi vì nó sẽ cho bạn nghỉ ngơi, thảnh thơi; nó sẽ làm mới bạn. Nó sẽ lấy đi vỏ bọc cũ và nó sẽ cho bạn vỏ bọc mới.

Nhưng mọi người cứ triết lí hoá. Họ đã tạo ra những điều như Khoa học Ki tô giáo, tâm trí trên vật chất. Họ nghĩ rằng nếu bạn tin rằng bạn sẽ không chết thì bạn sẽ không chết.

Tôi nghe nói về một người là nhà khoa học Ki tô giáo. Một hôm ông ấy gặp một thanh niên. Ông ấy hỏi người thanh niên này, 'Có tin gì về bố anh không?'

Anh thanh niên nói, 'Ông ấy ốm lắm.'

Nhà khoa học Ki tô giáo nói, 'Toàn điều vô nghĩa! Bảo ông ấy, 'Tâm trí trên vật chất.' Ông ấy tin ông ấy ốm, có vậy thôi; chính niềm tin của ông ấy đang tạo ra ốm. Đừng tin vào ốm và ông ấy sẽ mạnh khoẻ.'

Sau vài ngày lại anh thanh niên đó bắt gặp nhà khoa học Ki tô giáo này, và nhà khoa học Ki tô giáo hỏi, 'Mọi sự bây giờ thế nào với ông già rồi? Ông ấy thế nào?'

Và anh thanh niên nói, 'Bây giờ ông ấy tin rằng ông ấy chết.'

Vấn đề không phải là niềm tin: ốm có thực tại, và cái chết nữa cũng có thực tại. Vâng, bằng việc tin bạn cũng có thể tạo ra vài bệnh - toàn bệnh giả, hư huyễn - và bằng việc giải niềm tin đó trong họ bạn có thể phá huỷ bệnh đó. Nhưng bạn không thể phá huỷ bệnh thực; bệnh phải là giả ngay chỗ đầu tiên đã. Nếu bạn tin vào nó và tạo ra nó, thế thì bằng việc giải niềm tin vào nó, nó có thể bị vứt bỏ.

Nhưng cái chết không phải là niềm tin của bạn; bằng không sao con vật chết? Chúng không tin, chúng không tin rằng chúng sắp chết. Sao cây cối chết? Chúng không tin rằng chúng sắp chết, chúng không có hệ thống niềm tin nào. Sao các vì sao và mặt trời và mặt trăng chết? Sao trái đất chết? Chúng không tin; cái chết là hiện tượng phổ quát, nó xảy ra ở mọi nơi. Nó là một phần của cuộc sống; nó là mặt bên kia của đồng tiền.

Tôi không ủng hộ gì cho Khoa học Ki tô giáo. Nó chẳng là khoa học cũng không Ki tô giáo - nó đơn giản là vô nghĩa.

Hai người trung tuần đang đi khỏi sân tennis sau vài phút chơi. Người già hơn, anh chàng to béo đến mức độ nào đó thở phì phò nặng nhọc.

'Tôi đoán tôi hơi thiếu sức,' ông ta thú nhận một cách buồn rầu.

'Ông chơi được bao lâu rồi, Herbie?' người trẻ hỏi. 'Quãng hai tuần.'

'Thế thì để tôi cho ông chút lời khuyên thực hành. Thử cách khoa học Ki tô giáo xem sao - tâm trí trên vật chất.'

'Tôi đã thử rồi,' người béo thú nhận. 'Khi đối thủ của tôi giao bóng cho tôi, tâm trí khoa học Ki tô giáo của tôi nói, 'Bây giờ, Herbie, mình phải chạy lên tới lưới, ném quả tiu sắc bén vào góc xa của sân và rồi nhảy về vị trí.' Điều đó đích xác là điều tâm trí khoa học Ki tô giáo của tôi bảo tôi....

'Nhưng thân thể Do Thái của tôi nói, 'Herbie, làm mình thành kẻ ngu à, mình không cần!''

Thực tế, thân thể và tâm trí không phải là hai thứ: thân thể là bên ngoài của tâm trí, tâm trí là bên trong của thân thể. Dùng cụm từ 'thân thể và tâm trí' là không đúng; bạn là thân tâm, thậm chí không có gạch ngang ở giữa. Chúng ta phải dùng nó như một từ 'thân tâm', 'tâm thân'. Cho nên tất nhiên, cái bên trong của bạn ảnh hưởng tới cái bên ngoài của bạn, cái bên ngoài của bạn ảnh hưởng tới cái bên trong của bạn - bạn là thân tâm - nhưng bạn không bị kết thúc với thân tâm. Có nhân chứng nữa.

John Fisant, thay vì bận tâm tới bất tử thân thể, có tiếp xúc với việc chứng kiến linh hồn đi, điều quan sát cả thân thể và tâm trí. Nó quan sát cuộc sống, nó quan sát cái chết; do đó nó siêu việt trên cả cuộc sống và cái chết. Chỉ chứng kiến này mới là bất tử vì nó không bao giờ sinh và không bao giờ chết.

Thiền nhân gọi nó là bản lai diện mục khuôn mặt nguyên thuỷ. Việc chứng kiến này là khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn. Và thiền không là gì ngoài nghệ thuật khám phá ra khuôn mặt nguyên thuỷ của bạn. Bạn là bất tử, nhưng không về thân thể; chỉ trong nhận biết, trong tâm thức của mình bạn mới bất tử, bạn là phổ quát.

Câu hỏi thứ tư:

Thưa Thầy kính yêu,

Phật không phải là nhà thơ sao? Ông ấy không có tâm trí logic sao? Chúng tôi phải thế nào để là đàn ông và đàn bà mới, vượt ra ngoài điều thầy đã gọi là tính một chiều của mình, khi nó dường như là giáo huấn cơ sở của thầy, cũng như giáo huấn của Phật, đơn giản là nhận biết?

Roderick, Phật Gautama không là nhà thơ nếu bạn hiểu ông ấy một cách trực tiếp, nhưng nếu bạn hiểu ông ấy qua tôi, ông ấy là nhà thơ đấy. Khi tôi nói về Phật điều rất tự nhiên là mầu sắc của tôi được phản chiếu trong ông ấy.

Tôi yêu thơ ca và tôi cứ tìm chất thơ ngay cả chỗ nó không có.

Phật giống như mảnh đất sa mạc - nhưng tôi yêu ốc đảo và tôi cứ khám phá ra chúng. Nếu bạn đã thấy Phật bạn chắc đã thấy ngay lập tức rằng ông ấy không thể có liên quan gì tới thơ ca cả. Thơ ca là hư cấu với ông ấy, nhiều hư cấu như nó có với Plato. Trong nền Cộng hoà của mình, Plato nói, nhà thơ sẽ không được phép, bởi lẽ đơn giản là họ là kẻ dối trá, họ sống trong dối trá. Thơ ca là gì? Việc nói dối đẹp đẽ! Phật cũng có cùng tâm trí đó; ông ấy chắc đã đồng ý với Plato. Ông ấy rất nhấn mạnh vào chân lí.

Cách tiếp cận của tôi là khác. Tôi không nhìn tôn giáo như thứ khô cứng, chết. Với tôi tôn giáo là bài ca, điệu vũ. Nếu tôi định tạo ra nền cộng hoà, cõi không tưởng, thế thì nhà thơ sẽ là công dân duy nhất ở đó; họ sẽ là người duy nhất được phép - bởi vì cái đẹp còn có giá trị hơn nhiều so với bản thân chân lí. Và nhà thơ khám phá ra cái đẹp - không chỉ khám phá, ông ấy tạo ra. Nhà thơ mang tính sáng tạo.

Chính bởi vì tôi mà trong Phật bạn sẽ thấy thơ ca. Tôi xin lỗi, tôi không thể làm khác được. Đó là lí do tại sao Phật tử không sung sướng với tôi; đặc biệt các học giả Phật giáo không sung sướng chút nào. Họ nói tôi cứ tìm ra trong Phật những điều không có đó. Tôi không quan tâm mấy tới liệu chúng có hay không. Tôi dùng Phật chỉ như cái cớ, cũng như tôi dùng Jesus và tôi dùng Mahavira và tôi dùng Patanjali. Tôi không phải là nhà bình luận - tôi có linh ảnh riêng của mình. Tôi dùng chúng như cái móc để treo bản thân tôi lên.

Khi các bạn nghe Phật qua tôi, nó là hiện tượng hoàn toàn khác. Bạn đang nhìn qua mắt tôi; do đó Phật sẽ trông như nhà thơ - nhưng ông ấy không phải là nhà thơ. Ông ấy là người rất logic; do đó tôi nói ông ấy là người một chiều. Ông ấy hoàn toàn logic, logic như Ludwig Wittgenstein.

Wittgenstein nói bạn không nên nói về cái gì đó không thể được nói ra. Đó đích xác là quan điểm của Phật; Phật sẽ đồng ý ngay lập tức với Wittgenstein. Đó đích xác là điều ông ấy đã nói hai mươi nhăm thế kỉ trước Wittgenstein. Ông ấy chưa bao giờ nói về Thượng đế bởi vì chẳng cái gì có thể được nói về Thượng đế; do đó không nói gì cả. Ngay cả nói rằng không gì có thể được nói về Thượng đế cũng là nói cái gì đó về Thượng đế rồi; tốt hơn cả là thậm chí không nói điều đó.

Upanishads nói: Không cái gì có thể được nói về Thượng đế; ngài là không định nghĩa được. Phật sẽ không nói ngay cả điều đó bởi vì đó là tự mâu thuẫn. Nói rằng không cái gì có thể được nói về Thượng đế là tự mâu thuẫn bởi vì bạn đã nói điều gì đó rồi. Ngay cả nói rằng không cái gì có thể được nói là đang nói cái gì đó rồi. Phật đã hoàn toàn logic, tuyệt đối logic. Ông ấy giữ im lặng tuyệt đối.

Bất kì khi nào ông ấy vào một thị trấn, thành phố, làng, các đệ tử sẽ đi trước ông ấy để công bố, 'Đừng hỏi mười một câu hỏi này với Phật, bởi vì ông ấy sẽ không trả lời, cho nên đừng phí hoài thời gian của các ông và của ông ấy.' Mười một câu hỏi đó bao gồm mọi thứ mà triết học, thượng đế học, siêu hình được làm ra. Nếu bạn không hỏi mười một câu hỏi đó, chẳng cái gì còn lại để hỏi - chẳng cái gì siêu hình. Thế thì bạn có thể hỏi chỉ vấn đề thực tại. Bạn có thể hỏi về cơn giận của mình, tham lam của mình, dục của mình. Bạn có thể hỏi về khổ của mình, đau khổ, cách gạt bỏ nó, nhưng bạn không thể hỏi liệu Thượng đế có không. Bạn không thể hỏi cái gì sẽ xảy ra sau cái chết. Bạn không thể hỏi chân lí là gì, cái đẹp là gì, tốt là gì; ông ấy không cho phép điều đó. Ông ấy là người rất logic và một chiều.

Cuộc sống là ba chiều. Và mãi cho tới nay đã có những người, những người vĩ đại, nhưng họ tất cả đều một chiều. Chẳng hạn, Phật là logic, Socrates cũng vậy. Đã có các nhà thơ lớn - Kalidas, Rabindranath, Shelley, Shakespeare. Họ là người một chiều: đẹp trong thượng đế của họ. Và đã có những người đạo đức, người tuyệt đối đạo đức, người đức hạnh có toàn thể cuộc sống được dành cho việc chỉ là đức hạnh nhất có thể được: Mahavira, Lão Tử. Nhưng tất cả đều là một chiều.

Nhân loại nay đã đi tới ngã tư đường. Chúng ta đã sống con người một chiều, chúng ta đã vét cạn nó. Chúng ta cần bây giờ con người giầu có hơn, ba chiều. Chúng ta có thể gọi họ là ba C, cũng giống như ba R.

C thứ nhất là tâm thức (consciousness), C thứ hai là từ bi (compassion), C thứ ba là sáng tạo (creativity).

Tâm thức là hiện hữu, từ bi là tình cảm, sáng tạo là hành động. Sannyasin của tôi phải là cả ba điều này đồng thời. Tôi đang cho bạn thách thức lớn lao nhất đã từng được cho, nhiệm vụ khó khăn nhất cần được hoàn thành. Bạn phải hiện hữu có tính thiền như Phật, đáng yêu như Krishna, sáng tạo như Michelangelo, Leonardo da Vinci. Bạn phải có tất cả những điều này đồng thời. Chỉ thế thì tính toàn bộ của bạn mới được hoàn thành; bằng không cái gì đó sẽ vẫn còn thiếu trong bạn. Và cái còn thiếu trong bạn sẽ giữ bạn bị thiên lệch, không hoàn thành. Bạn có thể đạt tới đỉnh rất cao nếu bạn là người một chiều, nhưng bạn sẽ chỉ là một đỉnh. Tôi muốn bạn trở thành toàn thể rặng Himalayas, không chỉ một đỉnh mà nhiều đỉnh trên nhiều đỉnh!

Con người một chiều đã thất bại. Nó đã không có khả năng tạo ra trái đất đẹp, nó đã không có khả năng tạo ra thiên đường trên trái đất. Nó đã thất bại, hoàn toàn thất bại! Nó đã tạo ra vài người đẹp, nhưng nó không thể biến đổi toàn thể nhân loại, nó không thể nâng tâm thức của toàn thể nhân loại. Chỉ vài cá nhân đây đó mới trở nên chứng ngộ. Điều đó không giúp ích gì hơn. Chúng ta cần nhiều người chứng ngộ hơn, và chứng ngộ theo cách ba chiều.

Đó là định nghĩa của tôi về con người mới.

Roderick, bạn hỏi tôi, 'Phật không phải nhà thơ sao?'

Ông ấy không phải nhà thơ đâu! Nhưng những người sẽ trở nên thức tỉnh cùng tôi sẽ là nhà thơ. Khi tôi nói 'nhà thơ' tôi không ngụ ý rằng bạn phải làm thơ - bạn phải có tính chất thơ ca thôi. Cuộc sống của bạn phải có tính chất thơ ca, cách tiếp cận của bạn phải có tính chất thơ ca. Logic là khô khan, thơ ca là sống động. Logic không thể nhảy múa; nhảy múa là không thể được với logic. Nhìn logic nhảy múa sẽ giống như Mahatma Gandhi nhảy múa vậy! Nó sẽ trông rất buồn cười. Thơ ca có thể nhảy múa; thơ ca là điệu vũ của trái tim bạn. Logic không thể yêu được; nó có thể nói về tình yêu, nhưng nó không thể yêu được. Tình yêu dường như phi logic. Chỉ thơ ca mới có thể yêu; chỉ thơ ca mới có thể nhảy vào trong ngược đời của tình yêu. Logic là lạnh lẽo, rất lạnh; nó là tốt khi có liên quan tới toán học, nhưng nó không tốt khi có liên quan tới nhân loại. Nếu nhân loại trở nên quá logic thì nhân loại biến mất; thế thì chỉ có con số, không có con người - các con số thay thế được.

Thơ ca, tình yêu, tình cảm cho bạn chiều sâu, sự nồng ấm. Bạn trở nên được tan chảy hơn, bạn mất đi cái lạnh lẽo như băng. Bạn trở nên con người hơn.

Phật là siêu nhân, về điều đó không có hoài nghi gì, nhưng ông ấy mất đi chiều nhân bản. Ông ấy siêu phàm. Ông ấy có cái đẹp của việc là siêu phàm, nhưng ông ấy không có cái đẹp mà Zorba người Hi Lạp có. Zorba trần tục thế.

Tôi muốn bạn là cả hai cùng nhau: Zorba Phật! Người ta phải có tính thiền, nhưng không chống lại tình cảm, vẫn tràn ngập với tình yêu. Và người ta phải có tính sáng tạo. Nếu tình yêu của bạn chỉ là tình cảm và nó không được dịch thành hành động, nó sẽ không ảnh hưởng tới nhân loại lớn hơn. Bạn phải làm cho nó thành thực tại, bạn phải vật chất hoá nó.

Đây là ba chiều của bạn: hiện hữu, tình cảm, hành động. Hành động chứa mọi tính sáng tạo, mọi kiểu sáng tạo: âm nhạc, thơ ca, hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, khoa học, công nghệ. Tình cảm chứa tất cả những cái là thẩm mĩ: tình yêu, cái đẹp. Và hiện hữu chứa thiền, nhận biết, tâm thức.

Bạn hỏi tôi, 'Dường như là giáo huấn cơ sở của thầy, cũng như giáo huấn của Phật....'

Tôi không có giáo huấn cơ sở nào, tôi không thể có giáo huấn cơ sở được. Tôi không phải là thầy giáo chút nào. Tôi không dạy các bạn, tôi đơn giản là sự hiện diện. Bạn có thể học, nhưng tôi không dạy. Bạn có thể hấp thu tâm linh tôi, và tâm linh tôi và tác động của nó sẽ phụ thuộc vào bạn.

Có những người mà từ họ nhận biết sẽ giúp như giáo huấn cơ sở; họ sẽ học nhận biết từ tôi. Và có những người mà với họ tình yêu sẽ giúp đỡ; thế thì họ sẽ học tình yêu như giáo huấn cơ sở từ tôi. Điều đó tuỳ thuộc vào bạn. Tôi là đa chiều, do đó tôi có thể hấp thu đủ mọi loại người.

Phật sẽ không chấp nhận tất cả các bạn đâu, nhớ lấy, mà Jesus hay Mahavira cũng không; họ đã chọn lựa. Vài người sẽ được chọn bởi Phật và vài người sẽ được chọn bởi Jesus và vài người đã được chọn bởi ai đó khác. Nhưng tôi không chọn chút nào, tôi tuyệt đối vô chọn lựa. Bất kì ai tới tôi đều được chấp nhận, tuyệt đối được chấp nhận, hoàn toàn được chấp nhận, bởi vì tôi không có hình mẫu cơ sở. Tôi chỉ có hướng dẫn - và hướng dẫn cho tất cả, cho mọi loại người.

Nó không phải là giáo huấn; giáo huấn trở thành cứng ngắc, trở thành bị xác định. Nó chỉ là sự hiện diện. Tôi chỉ là cửa sổ; qua tôi bạn có thể nhìn vào Thượng đế. Và một khi bạn đã nhìn vào Thượng đế, thế thì bạn có thể nhìn vào Thượng đế theo cách riêng của bạn - tôi không được cần thêm nữa.

Câu hỏi thứ năm:

Thưa Thầy kính yêu,

Sao tất cả những người thức tỉnh đều chống lại việc ham muốn? Cái gì sai với ham muốn?

Sujata, thiền về câu châm ngôn của Murphy: Cẩn thận về điều bạn muốn, vì bạn có nghĩa vụ nhận nó.

Câu hỏi thứ sáu:

Thưa Thầy kính yêu,

Tại sao tôi bao giờ cũng thấy khó quan hệ với vợ tôi?

Richard, vì bạn là người Anh, và bạn biết các bà vợ Anh!

Được phái tới Australia cho chuyến đi kinh doanh kéo dài, người Anh được hỏi ông ấy có cảm thấy thiếu vợ mình không, người vẫn ở London.

'À, tôi không thiếu cô ấy nhiều thế đâu,' ông ta giải thích. 'Một ngày một tuần tôi thuê một người đàn bà địa phương tới và chì chiết.'

Sau khi họ đã thảo luận vấn đề của mình trong hơn một giờ, quí bà người Anh khó tính nói với nhà tư vấn hôn nhân, 'Tôi nghĩ điều bất công là gợi ý rằng tôi không thích dục. Nhưng ông có thể nói gì về người đàn ông muốn nó chỉ năm hay sáu lần một năm?'

Và chuyện cuối cùng:

'Em đang tập các bài võ công phu để phòng trường hợp tên quỉ dâm dục nào định hiếp em trong đêm tối nào đó,' người đàn bà Anh với khuôn mặt tỉa gọn bảo ông chồng chịu đựng của mình.

'Sao bận tâm?' ông chồng nhận xét. 'Nó sẽ không bao giờ làm chỗ tối đó đâu.'

Câu hỏi thứ bẩy:

Thưa Thầy kính yêu,

Tất cả chư phật đều nói rằng người ta nên học im lặng, nhưng cuộc sống thường ngày người ta phải nói chứ. Thế thì người ta phải làm gì?

Shakti, trước hết thiền về câu châm ngôn của Murphy: Nghĩ hai lần trước khi bạn nói và thế rồi đừng nói gì cả.

Nhưng nếu bạn phải nói cái gì đó, thì thiền về điều này:

Walker, một chủ báo, đang đi nghỉ ở Maine. Ông ấy bắt gặp một túp lều cô độc và bắt đầu phỏng vấn người chủ với ý tưởng viết ra câu chuyện tại chỗ.

'Đây là nhà của ai?' phóng viên hỏi. 'Moggs',' người Mainer đáp.

'Nó được dựng bằng cái gì trên thế giới?' 'Gỗ.'

'Có con vật tự nhiên nào ở vùng này?' 'Ếch.'

'Ông có loại đất nào?' 'Đầm.'

'Khí hậu ra sao?' 'Sương.'

'Ông sống chính bằng gì?' 'Lợn.'

'Ông có bạn bè không?' 'Chó.'

Diễn cảm vào!

Câu hỏi thứ tám:

Thưa Thầy kính yêu,

Aha! Tôi nghĩ đã có cái gì đó quen thuộc về ông ấy - Murphy là người Do Thái! Thường được gọi là Moshe Kapoyer chứ gì?

Tao, đây là khám phá nổi bật đấy! Tôi tự hỏi làm sao bạn xoay xở tìm ra được nó. Điều đó đúng. Moshe Kapoyer là người Do Thái duy nhất ở một thị trấn nhỏ và vì kinh doanh tồi tệ nên ông ấy quyết định đổi tên. Cũng có những lí do khác để đổi tên ông ấy: bởi vì ông ấy là người Do Thái và chỉ người Do Thái, những người né tránh ông ấy và kinh doanh của ông ấy mới khổ. Và điều thứ hai bởi vì tên ông ấy, Moshe Kapoyer, nghĩa là ông Lộn nhào hay ông Lộn ngược, cho nên ông ấy không thật sướng lắm với cái tên của mình.

Ông ấy tới một quan toà và trở thành ông Jones. Một tuần sau ông ấy quay lại cũng ông chánh án đó để yêu cầu đổi tên ông ấy thành Murphy.

'Sao ông muốn đổi tên mình? Tôi vừa mới đổi tên cho ông tuần trước.'

'Để cho khi mọi người hỏi tên tôi là gì trước khi nó là Murphy, tôi có thể nói đó là Jones.'

Câu hỏi thứ chín:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi cũng có thể là một thượng đế chứ?

Krishna, Deva, tôi đã cho bạn cái tên Krishna Deva. Nó nghĩa là Thượng đế Krishna. Vâng, không có rắc rối gì về nó. Thực tế bạn là thượng đế; cho dù bạn muốn là ai đó khác bạn cũng không thể là được. Mọi người đều cố là ai đó khác, nhưng không ai đã bao giờ thành công trong việc là ai đó khác. Thượng đế là bản tính của chúng ta. Bạn có thể quên tất cả về nó, nhưng bạn không thể thay đổi được nó.

Flaherty và Gluckstein đang thảo luận về công đức của tôn giáo của họ.

'Trả lời tôi về điều này,' người Ai rơ len nói, 'một trong các con trai ông có thể là giáo hoàng được không?'

'Không,' Gluckstein trả lời. 'Một trong các con trai của ông có thể là Thượng đế không?'

'Sao, tất nhiên là không!' Flaherty đáp.

'Đấy,' Gluckstein nói, 'một trong các con trai của chúng tôi đã làm điều đó!'

Nếu Jesus có thể làm được điều đó, nếu Phật có thể làm được điều đó, sao bạn không làm được? Thực tế, họ có thể làm được điều đó bởi vì nó không phải là cái gì đó được đạt tới, nó là cái gì đó chỉ được khám phá ra. Chúng ta đã quên mất nó; nó đã có đó rồi như dòng chảy ngầm. Tính thượng đế của chúng ta bao giờ cũng có đó; dù bạn đi đâu nó cũng đi cùng bạn. Nó là bạn. Nó ở trong tội đồ, nó thậm chí ở trong thánh nhân!

Câu hỏi thứ mười:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi thích câu trả lời của thầy hôm nọ cho câu hỏi của Arup. Rắc rối duy nhất là ở chỗ tôi đã bắt đầu về nhà sớm và không uống rượu nhiều thế, trong khi Arup đi tới đám tiệc nhảy disco cùng nhau, đi chơi và nói chung có thời gian thoải mái. Tôi đang trở nên có tính thiền, trong khi Arup đang trở nên phóng đãng như kẻ khờ?

Niranjan, bây giờ bạn biết tại sao tôi nói với Arup rằng đây tuyệt đối là cách chắc chắn để nâng tâm thức của nhân loại. Cô ấy đã bắt đầu - cô ấy đã bắt đầu với bạn. Bạn là nạn nhân đầu tiên của cô ấy!

Câu hỏi cuối cùng:

Thưa Thầy kính yêu, Hiểu lầm là gì?

Dhyanesh, ba câu chuyện cho bạn:

Anna: 'Có đúng là điều tớ nghe thấy về chồng cậu bỏ hút thuốc không?'

Hannah: 'Đúng, bây giờ anh ấy chỉ hút thuốc sau bữa ăn - bữa ăn của anh ấy, bữa ăn của tớ, bữa ăn của các con, bữa ăn của mọi người!'

Chuyện thứ hai:

Người bị kiện bị buộc tội bôi nhọ danh dự của một thiếu nữ thuần khiết, theo sự chứng nhận của một quí bà, và anh gặp lúc khó khăn để giải thích hoàn cảnh này.

'Tôi vô tội, thưa quan toà,' anh ta tuyên bố. 'Mọi điều tôi đã làm là đưa cho cô ấy một cốc rượu scotch và nước sô đa, và cô ấy đã ngửa ra!'

Và câu chuyện thứ ba và là câu chuyện cuối:

Chàng thanh niên Moishe vừa cưới vợ. Vào ngày cưới, bố anh ta kéo sang bên và nói, 'Trông đây, Moishe, nếu con muốn có hôn nhân thành công con phải làm ba điều này rõ ràng ngay từ đầu: con phải chứng tỏ cho vợ con rằng con là người chủ gia đình, rằng con là đàn ông, và rằng con độc lập.'

Moishe cám ơn bố và đi đám cưới và tuần trăng mật. Kavita, nếu bạn đang ngủ, thức dậy đi!

Sau khi đôi vợ chồng đã trở về, người bố và người con trai một mình ở cùng nhau trong một khoảnh khắc im lặng, người bố hỏi lời khuyên của ông ta có tác dụng không.

'A, tuyệt vời!' Moishe tươi cười. 'Con đưa vào thực hành ngay đêm đầu tiên của tuần trăng mật. Khi chúng con một mình trong phòng khách sạn, đầu tiên con xé toạc quần áo cô ấy để chứng tỏ cho cô ấy ai là chủ; thế rồi con xé toạc quần áo của con để chứng tỏ cho cô ấy rằng con là đàn ông; và thế rồi con thủ dâm ngay trước mặt cô ấy để chứng tỏ cho cô ấy là con độc lập!'

Đủ cho hôm nay.

Mục lục chính
Chương 12. Con người mới với cách nhìn mới

Chương 12. Con người mới với cách nhìn mới

Dhammapada: Con đường của Phật
The Dhammapada: The way of the buddha
Osho
Tập 10


Chương 12. Con người mới với cách nhìn mới


Câu hỏi thứ nhất:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi là người vô giáo dục. Tôi có thể vẫn trở thành người chứng ngộ được chứ?

John, có nhiều khả năng cho bạn hơn là cho người có giáo dục đấy. Giáo dục vẫn tồn tại trên thế giới này không phải là giáo dục đúng đâu. Giáo dục đúng sẽ giúp chứng ngộ tiến lên bởi vì nó làm cho bạn có tính thiền hơn, im lặng hơn, nhận biết hơn, nhìn vào trong hơn.

Giáo dục đang tồn tại trên thế giới làm cho bạn tham vọng hơn, nhìn ra ngoài, bản ngã hơn, bề ngoài hơn. Nó cho bạn mọi loại giá trị sai. Nó là một loại đầu độc. Nó không giúp bạn theo bất kì cách nào là bản thân mình. Nó có tính phá huỷ. Nó giúp bạn là ai đó khác, và đó là chính nền tảng huỷ diệt. Nó là việc đầu độc, nhưng chậm chạp tới mức bạn không bao giờ trở nên nhận biết.

Nó bắt đầu từ ngày bạn được sinh ra và nó cứ diễn ra từ từ, từ từ phá huỷ bạn, sao lãng bạn khỏi bản tính của mình.

Đến lúc bạn ra khỏi đại học bạn không còn là sinh linh tự nhiên nữa. Bạn là nhân tạo, tuỳ tiện. Đại học giống như xưởng máy, dây chuyền lắp ráp, nơi con người bị phá huỷ và máy được tạo ra, nơi con người bị thu lại thành máy.

Chứng ngộ nghĩa là khám phá ra bản thể bạn. Nó chẳng liên quan gì tới giáo dục. Thực tế, những người có giáo dục sẽ phải trở nên vô giáo dục, theo một nghĩa nào đó. Những người thông tháo sẽ phải thôi là thông thái. Họ sẽ phải trở thành như trẻ con lần nữa, hồn nhiên, để mắt họ có thể đầy ngỡ ngàng, ngạc nhiên, để họ lại có thể nhìn cái đẹp vô cùng của sự tồn tại, niềm vui vĩnh hằng, lễ hội đang bao quanh bạn. Nhưng người thông thái là tuyệt đối vô nhận biết bởi vì người đó nghĩ người đó biết rồi; đó là rào cản của người đó.

Bạn càng biết nhiều, bạn càng ít ngạc nhiên bởi bất kì cái gì. Bạn càng biết nhiều, bạn càng ít ngỡ ngàng. Và Thượng đế chỉ dành cho những người có ngỡ ngàng toàn bộ, người biết tới kinh nghiệm về việc hiện hữu trong kính nể; người có thể nhảy múa với gió và mặt trời và mưa; những người mà khi thấy hoa hồng, cũng bị cái đẹp của nó đập vào mạnh tới mức họ trở nên mất tiếng, tới mức trong một khoảnh khắc tâm trí họ dừng vận hành. Chỉ những người đó mới có thể biết tới Thượng đế. Chỉ vài người đó mới có thể trở nên chứng ngộ.

John, bạn may mắn đấy. Tất nhiên, nếu bạn có giáo dục bạn sẽ có khả năng kiếm nhiều tiền hơn - nhưng không nhiều thiền hơn. Bạn sẽ có khả năng có nhiều quyền lực chính trị hơn bởi vì bạn sẽ tinh ranh hơn, láu cá hơn - nhưng không sáng suốt trong bản thể riêng của mình. Bạn có thể có khả năng sở hữu nhiều thứ, nhưng cái đó sẽ chỉ là lừa dối. Thực tế, đồ vật sẽ sở hữu bạn bởi vì bạn sẽ không là người chủ riêng của mình. Sở hữu bản thể riêng của mình còn tốt hơn là sở hữu toàn thế giới. Là vị phật - kẻ ăn xin - còn tốt hơn là Alexander Đại đế, bởi vì vị phật sống cuộc sống trọn vẹn và chết cái chết trọn vẹn, còn Alexander Đại đế sống cuộc sống trống rỗng, hổng hoác, bằng cách nào đó tống vào trong nó trong nỗ lực tự thuyết phục mình rằng mình không trống rỗng, và thế rồi chết đi hoàn toàn trống rỗng.

Khi ông ấy chết, ông ấy nói với các tướng lĩnh của mình, 'Để hai tay ta thò ra ngoài quan tài.'

'Sao vậy?' họ hỏi, bởi vì đó không phải là cách mang xác chết đi.

Ông ấy nói, 'Điều đó có thể không theo tục lệ, nhưng ta muốn hai tay ta thò ra khỏi quan tài để mọi người có thể thấy rằng ta chết đi với bàn tay trống rỗng.'

Đó là cách thân thể ông ấy được mang đi. Hàng triệu người đã tụ tập lại để xem, và mọi người đều tự hỏi, 'Sao tay ông ấy lại thò ra?' Và, dần dần, dần dần tin đồn đi khắp rằng Alexander muốn mọi người được biết rằng ông ấy ra đi với bàn tay trống rỗng. Cuộc sống của ông ấy đã hoàn toàn vô tích sự.

John, không cần lo nghĩ về giáo dục, tri thức. Trong thế giới bên trong, giáo dục bình thường không được cần tới - cái gì đó khác mới được cần, giáo dục thực.

Từ 'education - giáo dục' là hay. Nó nghĩa là 'rút ra cái gì đó ': rút ra cái ở bên trong bạn. Thực tế, chúng ta không nên dùng nó cho giáo dục thông thường. Thật là sai mà dùng một từ hay như 'giáo dục' cho hệ thống mục ruỗng các trường phổ thông, cao đẳng và đại học. Nó không phải là giáo dục theo đúng nghĩa từ này, bởi vì thay vì rút ra cái ở bên trong bạn, nó ép buộc mọi thứ từ bên ngoài lên bạn. Nó là áp đặt.

Giáo dục thực giống như kéo nước từ giếng lên, không đổ cái gì vào trong giếng. Giáo dục thực kéo từ bản thể bạn ra để cho sự chói sáng bên trong của bạn bắt đầu thấm qua thân thể bạn, qua hành vi của bạn.

Tôi nhớ tới một câu chuyện hay. Nó thực sự đã xảy ra, nó không chỉ là chuyện.

Stosh, một dân nhập cư mới, xuống tàu tại đảo Ellis và đặt đích cho mình tìm việc. Đi hỏi từng nhà nhưng chẳng được may mắn, mãi cho tới khi anh ấy rung chuông một nhà thổ. Một bà thông cảm và sử dụng anh ta để lau dọn tầng hầm. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian kỉ lục, Stosh hỏi việc thêm, và bà này gợi ý rằng anh ta trở thành người quản gia mãi mãi.

Khi Stosh giải thích rằng anh ta không biết đọc không biết viết, bà này trả cho anh ta mười xu và bảo anh ta đi với lời chúc tốt nhất của bà ấy.

Với mười xu Stosh mua hai quả táo ở chợ. Anh ta ăn một quả và bán quả kia ở trung tâm thị trấn được mười xu. Anh ta trở ra chợ và mua hai quả táo nữa mà anh ta bán lại được mỗi quả mười xu. Tăng dần trong kinh doanh theo cách này cuối cùng anh ta trở thành người chủ của một toa xe quả nhỏ, thế rồi nhiều toa xe, thế rồi một cửa hiệu quả nhỏ, thế rồi một siêu thị, và chung cuộc một chuỗi các siêu thị.

Khi nhiều chuỗi cửa hàng thực phẩm quốc gia khổng lồ đề nghị mua của anh ta, anh ta đã chấp nhận đấu thầu cao nhất - bẩy triệu rưởi đô la. Hợp đồng được soạn thảo và vị điều hành công ti cùng Stosh, được bao quanh bởi một số lớn các luật sư, gặp nhau ở văn phòng công ti lộng lẫy trên chóp một trong những toà nhà chọc trời danh giá nhất của Manhattan. Bản hợp đồng được xem qua, các cái đầu gật lia lịa và cuối cùng vị quan chức điều hành kí vào đường chấm chấm bên mình. Thế rồi Stosh cầm lấy chiếc bút máy vàng và cần cù viết nguệch ngoạc 'X' của ông ấy vào cuối trang.

Viên quan chức điều hành công ti nhảy lên từ ghế ngồi của mình và kêu to, 'Trời đất, ông này! Ông muốn nói ông đã cóp nhặt kinh doanh này trị giá bẩy triệu rưởi đô la mà không biết đọc viết sao?'

'Quỉ sứ!' Stosh cười hô hố dứt khoát. 'Nếu Stosh có thể đọc hay viết, Stosh sẽ vẫn là người quản gia trong nhà thổ thôi!'

Câu hỏi thứ hai:

Thưa Thầy kính yêu, Tốt máy móc là gì?

Gina Goyt, không có gì giống như tốt máy móc cả. Tốt không thể máy móc được và bất kì cái gì máy móc cũng không thể tốt. Nó là thuật ngữ mâu thuẫn. Tốt chỉ có thể là có ý thức, phi máy móc; và cái ác chỉ có thể là vô ý thức, máy móc.

Nhưng tôi hiểu câu hỏi của bạn. Nó có liên quan, bởi vì trong hàng thế kỉ cái gì đó giống như tốt máy móc đã được dạy cho mọi người bởi vì nó dễ dàng. Mọi người đều máy móc. Đem tốt thực tới các kiếp sống của họ, đức hạnh thực, bạn sẽ phải biến đổi vô ý thức của họ thành có ý thức, bạn sẽ phải đổi bóng tối của họ thành ánh sáng. Đó là nỗ lực gian nan, và xã hội, hơn thế, không quan tâm chút nào tới nó cả. Thực tế, nó sợ điều đó bởi vì bất kì khi nào người tốt thực đã xảy ra trên thế giới, người đó đều tạo ra rắc rối cho xã hội.

Một Jesus, một Lão Tử, một Phật, một Kabir, đây là những người nổi dậy vĩ đại nhất bởi lẽ đơn giản là họ có ý thức tới mức họ có thể thấy được qua toàn thể trò chơi ngu xuẩn điều chúng ta vẫn chơi. Họ có thể thấy qua các kiếp sống của chúng ta, họ có thể thấy qua lừa dối của chúng ta. Không thể nào lừa được họ và không thể nào khai thác được họ và không thể nào bắt họ làm nô lệ. Không chỉ là không thể bắt họ làm nô lệ, mà họ còn tạo ra phong trào có ý thức lớn trên thế giới. Họ đã tạo ra dây chuyền, họ lẩy cò dây chuyền. Nhiều, nhiều người đã trở nên chứng ngộ qua nỗ lực của họ. Nỗ lực của họ bị coi là phản xã hội. Đó là lí do tại sao Jesus đã bị đóng đinh.

Bạn có thể tìm đâu ra một người tốt hơn Jesus? Tội của ông ấy là gì? Tội của ông ấy là ở chỗ ông ấy thực sự tốt. Nếu ông ấy đã từng chỉ tốt một cách máy móc thì đã không có rắc rối rồi. Có nhiều giáo sĩ tốt một cách máy móc. Xã hội không sợ người máy móc; họ là quản lí được. Họ phụ thuộc vào xã hội. Họ bao giờ cũng sống với tập thể, họ bao giờ cũng theo đám đông. Đám đông rất hạnh phúc với những người này. Và dễ dàng tạo ra tốt máy móc bởi vì, ngay chỗ đầu tiên, mọi người máy móc rồi. Bạn chỉ thay thế ý tưởng ác của họ bằng ý tưởng tốt, không thay đổi chút nào bản thể họ.

Chẳng hạn, địa ngục được tạo ra - ý tưởng về địa ngục - để tạo ra tốt máy móc. Mọi người sợ, mọi người sống trong sợ hãi; các tu sĩ trở nên nhận biết về điều đó ngay lúc bắt đầu của nhân loại, rằng điều đó có thể được khai thác: làm cho họ sợ hơn. Tu sĩ mô tả địa ngục chi tiết tới mức, họ đã tạo ra sợ hãi trong mọi người nhiều tới mức mọi người trở nên bị ước định - từ sợ hãi.

Đó là cùng một kiểu ước định có thể được thực hiện bây giờ theo cách dễ dàng hơn bởi vì chúng ta có nhiều công nghệ phát triển. Không cần dạy cho hai mươi nhăm năm ý tưởng về địa ngục; rồi một người trở thành tốt máy móc. Bây giờ bạn có thể hỏi Pavlov, Skinner và những nhà hành vi khác: họ sẽ dạy bạn phương pháp nào đó. Chỉ sốc điện cũng có tác dụng.

Ai đó hút thuốc và bạn không muốn người đó hút thuốc - cho người đó cú sốc điện. Bất kì khi nào người đó hút thuốc cho người đó cú sốc điện. Trong vòng ba ngày người đó sẽ bỏ hút thuốc bởi vì khoảnh khắc người đó lấy điếu thuốc ra trong tay người đó sẽ bắt đầu run bắn. Người đó sẽ trở nên sợ nhiều tới mức bây giờ sốc đang tới. Đó là cách họ dạy cho chuột, họ dạy cho khỉ và tinh tinh. Và đó là cách họ cố gắng dạy cho con người.

Người tôn giáo đã tạo ra địa ngục, chính khách tạo ra nhà tù - chỉ để hành hạ mọi người. Nếu bạn hành hạ họ đủ, mọi người trở nên quen. Pavlov gọi điều đó là 'phản xạ có điều kiện.' Ông ấy đã làm việc cả đời với chó; ông ấy ước định chó.

Nếu bạn mang thức ăn tới trước chó, tất nhiên, điều đó ảnh hưởng tới nước bọt của nó. Nó bắt đầu tiết nước bọt, lưỡi nó bắt đầu thè ra, nước bọt bắt đầu nhỏ giọt. Thấy thức ăn ngon, điều đó là tự nhiên. Nhưng nếu bạn rung chuông điều đó không xảy ra. Không có mối nối giữa chuông và tuyến nước bọt, nhưng Pavlov đã làm một điều: bất kì khi nào ông ấy đem thức ăn cho chó ông ấy đều rung chuông. Bất kì khi nào ông ấy rung chuông ông ấy đều cho chó thức ăn. Chuông và thức ăn trở nên được liên kết, móc nối, móc với nhau. Sau mười lăm ngày ông ấy chỉ rung chuông và chó bắt đầu chảy nước dãi và lưỡi chúng thè ra. Bây giờ, không có mối nối tự nhiên giữa chuông và lưỡi, nhưng một mối nối mới đã được tạo ra.

Pavlov trở thành người sáng lập của tâm lí học cộng sản. Đó là cách ở nước Nga xô viết, ở Trung Quốc và ở các nước cộng sản khác, mọi người được ước định. Họ không nghĩ rằng con người khác gì với chó; có thể phát triển hơn, chút ít phức tạp hơn, nhưng vẫn là chó.

Skinner tiếp tục công việc trên chuột và cứ tìm cách ước định chuột, và ông ấy nói cùng điều đó áp dụng được cho người. Bạn cứ tạo ra sợ và thế thì họ sẽ không làm điều nào đó; và bạn tạo ra tham lam.... Và đó là lí do tại sao thiên đường, cõi trời đã được tạo ra. Đây là những chiến lược đơn giản để chi phối mọi người. Tạo ra sợ hãi với điều bạn muốn mọi người không làm và tạo ra ý tưởng về thưởng cho điều bạn muốn họ làm - và bạn đã tạo ra hành vi máy móc. Họ sẽ không làm điều xấu và họ sẽ làm điều tốt.

Nhưng đây là loại tốt gì? Nó là việc khai thác của xã hội, của nhà thờ, của quốc gia - của những quyền lợi được đầu tư. Nó đã không thay đổi bản thể con người.

Nó đã không làm con người nhận biết hơn, tỉnh táo hơn, vui vẻ hơn, lễ hội hơn. Nó đã không cho con người bất kì mùi vị nào của phúc lạc. Nó đã không mở ra bất kì cửa sổ nào cho con người, từ đó con người có thể có thoáng nhìn chút ít về Thượng đế. Tôi không gọi nó là lòng tốt, đức hạnh. Ý tưởng của tôi về đức hạnh là ở chỗ nó phải là sản phẩm phụ của tâm thức. Bạn phải trở nên ý thức tới mức bạn không thể làm cái sai được - không phải bởi vì bạn bị ước định mà bởi vì bạn có thể thấy nó sai.

Chẳng hạn, tôi được sinh ra trong gia đình Jaina. Bây giờ, người Jaina là người ăn chay khổ hạnh nhất trên thế giới. Trong nhà tôi ngay cả cà chua cũng không được phép bởi vì mầu đỏ của chúng nhắc bạn về thịt và máu. Ngay cả cà chua đáng thương, hồn nhiên thế! Trong thời thơ ấu của tôi, chính ý tưởng về ai đó ăn thịt là đủ làm tôi ốm. Trong gia đình tôi không có khả năng nào để ăn ban đêm. Người Jaina không ăn vào ban đêm. Ai muốn chịu ở địa ngục chỉ vì ăn trong đêm?

Khi tôi mười tám tuổi, lần đầu tiên tôi ăn trong đêm. Điều đó đi ngược toàn thể bối cảnh của tôi, nhưng tôi phải ăn bởi vì chúng tôi đã đi dã ngoại và tất cả những đứa con trai khác đều là người Hindu. Cả ngày họ không quan tâm tới việc chuẩn bị thức ăn, và tôi thậm chí không biết cách chuẩn bị trà! Cho nên tôi phải phụ thuộc vào họ. Tôi bảo họ nhiều lần, nhưng họ không quan tâm. Họ quan tâm tới việc thám hiểm núi chúng tôi đã đi tới, pháo đài, một pháo đài rất cổ đại, và những bức tượng và có nhiều thứ khác.

Cả ngày mệt mỏi và đến tối chúng tôi mệt lử. Thế rồi họ bắt đầu nấu thức ăn. Thức ăn đã sẵn sàng lúc buổi đêm. Mệt mỏi, đói... và thức ăn ngon họ đã chuẩn bị... và mùi thơm! Và tôi là người duy nhất chịu khổ thế! Tôi không thể ăn được bởi vì chỉ lưỡng lự có một đêm và bạn chịu đoạ địa ngục vĩnh viễn. Nhưng tôi lưỡng lự - cũng là tự nhiên. Trên bề mặt tôi giữ bình tĩnh và thản nhiên như tôi vẫn giả định vậy, nhưng họ đã thuyết phục tôi - và sâu bên dưới tôi sẵn sàng được thuyết phục. Thực tế, tôi đã hi vọng rằng họ sẽ có khả năng thuyết phục được tôi! Cuối cùng họ đã thuyết phục tôi và tôi đã ăn. Nhưng tôi chưa bao giờ chịu khổ nhiều thế. Cả đêm tôi nôn và mửa. Không ai khác nôn, không ai khác ốm. Đó chỉ là ước định của tôi.

Bây giờ, loại ăn chay này không phải là tốt. Nó không bắt nguồn từ ý thức của bạn - nó là máy móc.

Tốt máy móc không phải là tốt thực; nó chỉ là mẽ ngoài. Thông minh được cần tới để là tốt, nhận biết được cần tới để là tốt.

Một người Ba lan không cạo râu và có mùi say bị bắt vì say ở chỗ công cộng, và bây giờ anh ta đứng trước quan toà.

'Thưa ngài,' anh ta bào chữa, 'Tôi thành thực không có ý định uống cả phần tư lít vốt ca ngay một lúc.'

'Thế thì sao anh đã làm điều đó?' quan toà hỏi. 'Tôi đánh mất chiếc nút.'

Một nhà thầu làm việc cho chính phủ Mĩ ở Việt Nam đệ trình hoá đơn lợp mái nhà. Quan chức chính phủ chưng hửng vì tổng số tiền hai mươi nghìn đô la, phần lớn trong đó là tiền thuốc được tính vào việc này. Một trung uý được phái tới bệnh viện để điều tra.

Đây là giải thích của nhà thầu: 'Lúc bắt đầu việc tôi đã gắn một ròng rọc vào cạnh của mái và luồn một dây thừng qua nó. Một đầu này tôi buộc vào cái thùng lớn; đầu kia tôi buộc vào cái cọc trên đất. Rồi tôi chất đầy nửa thùng ngói, tháo dây thừng ra, kéo cái thùng lên tới mái, buộc lại dây thừng vào cọc, trèo lên thang, dỡ ngói ra để trên mái, hạ thùng xuống, trèo xuống thang, và lặp lại quá trình này nhiều lần cho tới khi tất cả ngói đều được đưa lên mái.

'Gần tối công việc được hoàn thành và tôi bắt đầu cho các viên ngói không dùng vào thùng. Tôi đã ước lượng quá số các viên ngói cần dùng và do vậy thừa đầy một thùng phụ. Tôi trèo xuống thang và tháo móc dây thừng.

'Thế rồi tôi nhận ra lỗi lầm của mình. Cái thùng, đầy ngói, nặng hơn tôi và bắt đầu tụt xuống. Bị choáng, tôi quên mất không bỏ tay - tôi bay tít lên! Đến nửa đường, cái thùng và tôi đụng nhau, làm gẫy hông phải tôi. Tôi tiếp tục đi lên, gẫy vài ngón tay và một bàn tay khi tôi đập vào cạnh mái. Trong khi đó chiếc thùng chạm đất, lật nghiêng và đổ toé loe gần hết ngói. Cái thùng, bây giờ nhẹ hơn tôi, đi lên. Tôi đi xuống. Đến nửa đường chúng tôi lại đụng nhau - lần này xương sườn tôi bị nghiến. Khi tôi chạm đất chân trái tôi bị gẫy.

'Đó là lúc tôi còn sự hiện diện của tâm trí để bỏ tay khỏi dây thừng. Vài giây sau chiếc thùng tiếp đất lên đầu tôi làm cho tôi chấn thương não!'

Thông minh hơn được cần tới, nhận biết hơn được cần tới, và thế thì cuộc sống trở thành tốt tự nhiên, tốt tự phát.

Câu hỏi thứ ba:

Thưa Thầy kính yêu,

Tôi là người đồng dục. Tôi cảm thấy bị áp bức và bị tác động khủng khiếp bởi vết nhơ đồng dục. Dường như tôi sai khi tới đây để tìm cách lại gần hơn với bản thân mình và đồng thời không có đủ dũng cảm để biểu lộ bản thân mình theo cách tôi đang vậy. Thế rồi tôi muốn từ bỏ và trở về nhà để cho tôi không phải nghĩ về nó thêm nữa. Tôi có thể làm gì?

Hein Steff, không có gì sai trong đồng dục cả. Bạn không cần cảm thấy mặc cảm về nó. Người ta chắc chắn phải đi ra ngoài dục, nhưng điều đó áp dụng được cho cả người dị dục cũng như áp dụng được cho người đồng dục. Dị dục hay đồng dục chỉ là kiểu cách của cùng một điều ngu xuẩn! Bạn không cần cảm thấy mặc cảm.

Thực tế, nhìn vào dân số thế giới, đồng dục nên được hỗ trợ. Ít nhất thì bạn sẽ không làm tăng dân số thế giới, bạn sẽ không thêm tải cho trái đất. Nó đã tải quá nhiều rồi. Đồng dục nên được coi là có giá trị, được kính trọng - nó là vui đùa thuần tuý! Dị dục là nguy hiểm. Và cái gì sai? Nếu hai người tận hưởng thân thể của nhau, chẳng có gì sai. Nó nên là mối quan tâm của họ; không là việc của ai khác để can thiệp vào.

Nhưng xã hội liên tục can thiệp vào mọi thứ; nó không để bất kì ai ở chỗ riêng tư nào. Nó đi vào trong giường ngủ của bạn nữa. Xã hội của bạn không phải là xã hội tự do. Nó nói về tự do và dân chủ và tất cả những cái mục nát đó, nhưng nó là nô lệ thuần tuý. Nó là nhà tù lớn. Và các tu sĩ và cái gọi là Thượng đế của bạn toàn là Toms Dò la. Họ tất cả đều đang nhìn vào cuộc sống riêng tư của bạn, điều bạn đang làm. Điều đó đáng phải không là việc của ai cả.

Cái gì sai trong việc yêu đàn ông hay đàn bà? Hai đàn ông có thể yêu nhau, hai đàn bà có thể yêu nhau. Tình yêu có giá trị trong bản thân nó. Và vui đùa không nên bị kết án. Cuộc sống đã nặng gánh thế rồi, đã là việc kéo lê thế, chán thế. Ít nhất để cái gì đó trong cuộc sống để mọi người có thể cảm thấy ít bị chán hơn.

Ở đây bạn không cảm thấy sợ biểu lộ bản thân mình theo cách bạn đang vậy. Toàn thể cách tiếp cận của tôi là để giúp bạn là cách bạn đang là bởi vì đó là cách duy nhất giúp bạn siêu việt lên trên nó. Cảm thấy mặc cảm và bạn sẽ vẫn còn như cũ. Mặc cảm chưa bao giờ biến đổi bất kì ai.

Và đồng dục là hiện tượng hồn nhiên thế. Sao nó lại đều muốn có nhiều người hơn bởi vì con số nghĩa là quyền lực.... Cho phép đồng dục là nguy hiểm; nó phải bị kết án, tuyệt đối kết án, nhiều tới mức trong vài nước nó là tội lỗi lớn nhất.

Chẳng hạn, ở một nước của Ayatollah Khomeiniac, Iran, nó là một trong những tội lỗi lớn nhất. Bạn có thể bị cầm tù chung thân hay bạn có thể thậm chí bị tử hình, chỉ vì là đồng dục. Điều đó dường như tuyệt đối ngớ ngẩn, lố bịch, nhưng trong quá khứ đã có lí do nào đó trong nó. Mọi xã hội đều muốn mạnh hơn. Đó là cuộc đấu tranh thường xuyên - cuộc đấu tranh giữa các nhóm, đấu tranh giữa các bộ lạc, đấu tranh giữa các thị tộc - nhân tố quyết định là số người của bạn, bạn có bao nhiêu người. Nếu mọi người trở thành đồng dục, thế thì dân số sẽ giảm; do đó điều đó phải bị kết án là tội lớn nhất.

Điều đó có thể có nghĩa nào đó nếu bạn nghĩ về quá khứ, nhưng trong hiện tại nó tuyệt đối vô nghĩa. Thực tế, toàn thể tình huống đã trở thành chính điều đối lập: bây giờ dị dục là nguy hiểm; số người ít hơn là được cần tới. Nếu nhân loại cứ phát triển theo cách này, thế thì chúng ta không thể hỗ trợ được cho nhân loại, chúng ta không thể sống lâu hơn được. Đến cuối thế kỉ này dân số sẽ nhiều tới mức, nghèo đói sẽ nhiều tới mức dường như không có cách nào ngoại trừ cuộc chiến thế giới thứ ba, điều sẽ giết chết gần hết mọi người - để cho vài người có thể bắt đầu lại toàn thể câu chuyện.

Tôi đã nghe một câu chuyện, câu chuyện thế kỉ hai mươi mốt đấy:

Chiến tranh thế giới thứ ba đã xảy ra, và một con khỉ đang ngồi trên tảng đá tắm nắng. Một con khỉ cái tới với quả táo và đưa quả táo cho con khỉ này. Và con khỉ này nói, 'Trời đất, chúng ta lại bắt đầu nó lần nữa à?'

Đồng dục bị kết án bởi vì có mọi khả năng là nếu nó không bị kết án thì nhiều người hơn sẽ quay sang nó. Xu hướng bên trong là có đó trong mọi người. Thực tế, người chống lại nó... người đó càng chống lại nó, người đó càng có nhiều xu hướng đó. Sâu bên dưới, vô ý thức, người đó biết nó ở đó. Để kìm nén nó người đó phải rất chống lại nó; người đó cảm thấy kinh tởm bởi chính ý tưởng này.

Nhưng không ai bảo người đó trở thành đồng dục. Nếu người khác cảm thấy bị hấp dẫn, thế thì đấy không phải là việc của bạn để can thiệp hay để kết án họ. Đó là tự do của họ, và họ không làm hại ai cả. Đó là trò chơi vô hại - ngu xuẩn, chắc chắn, nhưng không phải là tội. Nhưng khi có liên quan tới ngu xuẩn mọi dục đều ngu xuẩn, bởi lẽ đơn giản là nó là thôi thúc sinh học và bạn không phải là người chủ của nó, bạn là nạn nhân.

Và bạn không cần quá lo nghĩ về nó, Hein, bởi vì đồng dục có nguồn gốc rất đẹp: nó bắt nguồn từ trong các tu viện. Nó là cái gì đó tôn giáo! Những người đồng dục đầu tiên đều là các sư và ni - Ki tô giáo, Phật giáo, Jaina giáo; tất cả các tôn giáo lớn đều đóng góp phần của họ cho nó. Điều đó nhất định là như vậy bởi vì có các tu viện trong sự tồn tại ngay cả bây giờ mà không đàn bà nào được vào.

Trong tu viện Cơ đốc giáo ở châu Âu, Mount Athos, trong một nghìn năm không đàn bà nào đã vào; thậm chí không bé gái sáu tháng nào đã được cho vào. Loại người gì đang sống ở đó? Bé gái sáu tháng và họ sợ ngay cả điều đó! Họ có thể làm gì? Nhưng kìm nén dục tạo ra sợ, cho nên toàn thể tu viện này đầy đàn ông; và đồng dục là sản phẩm phụ tự nhiên nếu chỉ con trai ở cùng nhau hay chỉ con gái ở cùng nhau.

Người tôn giáo đã đóng góp lớn. Các nhà giáo dục đã đóng góp lớn, bởi vì con trai phải được giáo dục tách biệt. Chúng phải thường trú trong các kí túc xá đặc biệt dành cho chúng và con gái phải ở tách xa trong các kí túc xá khác, trong các trường khác. Nếu bạn để quá nhiều con gái ở cùng nhau chúng nhất định trở thành đồng dục nữ, bởi vì khi thôi thúc dục chiếm quyền sở hữu chúng và chúng không thể tìm được con trai, thì bất kì cái gì cũng là tốt hơn không có gì.

Trong vườn bách thú mọi con vật đều biến thành đồng dục - chỉ trong vườn thú, nhớ lấy. Trong trạng thái hoang dã chúng không trở thành đồng dục. Không có nhu cầu - con cái có sẵn. Nhưng trong chuồng thú, nếu con cái không có sẵn, chúng trở thành đồng dục. Vườn thú đáng để nghiên cứu. Tôi hay nghiên cứu vườn thú vì vườn thú cho bạn nhiều chỉ dẫn về xã hội con người. Xã hội con người là vườn thú lớn bởi vì mọi thứ đã trở thành phi tự nhiên thế.

Tới vườn thú và ngắm các con vật và bạn sẽ có khả năng thấy nhiều điều. Chúng trở thành đồng dục; chúng chưa bao giờ trở thành đồng dục trong trạng thái hoang dã của chúng. Chúng bị buộc trở thành đồng dục. Chúng phát cuồng, chúng trở thành không lành mạnh, điên. Trong trạng thái hoang dã chúng chưa bao giờ trở nên phát cuồng. Không con vật nào đã bao giờ trở nên điên trong trạng thái hoang dã của nó; nó vẫn còn lành mạnh. Nhưng lành mạnh của nó cần tự do chút ít.

Sư tử có lãnh thổ lớn trong trạng thái hoang dại, hàng dặm lãnh thổ, và nó là vua của toàn thể lãnh thổ. Trong vườn thú nó ở trong cái chuồng nhỏ. Nếu bạn đi tới vườn thú bạn sẽ thấy sư tử đi lên đi xuống trong chuồng, lên và xuống, lên và xuống, cả ngày. Điều đó có thể làm cho bất kì ai cũng phát điên. Nó cần tự do, nó cần lãnh thổ nào đó. Trong một chỗ nhỏ thế nó bị dồn vào quá chật. Nó trở nên giận dữ, phát rồ, bạo hành.

Nhiều bệnh chưa bao giờ xảy ra ở chỗ hoang dã. Chẳng hạn, không con vật nào bị bệnh lao hay ung thư, nhưng trong vườn thú các con vật lại bị lao và ung thư. Kì lạ! Ở chỗ hoang dã không có tiện nghi thuốc men cho chúng còn trong vườn thú mọi loại tiện nghi thuốc men đều có sẵn. Bác sĩ có đó để chăm sóc chúng, những bác sĩ lớn, làm điều gì đó lớn lao! Điều chúng không thể chăm sóc được cho chính bản thân chúng - ung thư, lao - các bác sĩ giúp chúng. Con vật trở thành nạn nhân của ốm bệnh mà chúng chưa bao giờ biết trước đây.

Xã hội con người đã từng bị ép buộc nhiều thế để sống trong hoàn cảnh phi tự nhiên - và tu viện là một trong những hoàn cảnh phi tự nhiên nhất. Nó là vườn thú, vườn thú tôn giáo! Đồng dục được sinh ra ở đó, cho nên bạn không cần cảm thấy rất tồi tệ về nó. Bạn là người tôn giáo rồi! Và bạn có dòng truyền thừa đồng dục lớn lao....

Nếu bạn tìm những người đồng dục bạn sẽ ngạc nhiên. Nhiều nhà thơ, nhiều tác giả, nhiều hoạ sĩ, nhiều nhạc sĩ, nhiều vũ công, nhiều người vĩ đại, nhiều người sáng tạo, đều là đồng dục. Nhiều người được giải thưởng Nobel đã là người đồng dục.

Và đừng lo nghĩ về chứng ngộ nữa, bởi vì ít nhất một người đồng dục tôi biết đã trở nên chứng ngộ - Socrates; ông ấy là người đồng dục. Và có hoài nghi về Jesus. Tôi không thể chứng minh được điều đó, chúng chỉ là hoài nghi - bởi vì ông ấy bao giờ cũng đi với con trai. Mười hai tông đồ đó... ai biết được? Nhưng nếu ông ấy là vậy, cũng chẳng có gì sai trong nó. Socrates chắc chắn là đồng dục. Plato đồng dục, Aristotle đồng dục. Người Hi Lạp là người vĩ đại!

Một cô gái Mĩ đi lấy một người Hi Lạp. Người mẹ lo nghĩ nhiều lắm. Bà ấy nói, 'Đợi đã! Nếu con có thể tránh được cuộc hôn nhân này....'

Cô gái đó phát điên. Cô ấy nói, 'Không. Anh ấy trông đẹp trai thế, giống như thượng đế Hi Lạp!'

Người mẹ nói, 'Mẹ biết, nhưng sau chỉ vài ngày thôi con sẽ biết anh ấy chẳng là gì ngoài một người Hi Lạp phải gió! Và một điều nữa,' người mẹ nói, 'nếu con lấy người này thì nhớ một điều: đừng bao giờ quay lưng con về phía anh ta, đừng bao giờ! Bất kì cái gì xảy ra cứ ngủ nằm thẳng lưng cả đêm!'

Cô gái lấy chồng. Cô ấy khăng khăng, và chẳng mấy chốc cô ấy thấy bà mẹ là phải: thượng đế Hi Lạp chẳng là gì ngoài người Hi Lạp phải gió! Và cô ấy cũng phân vân bởi vì anh ấy bao giờ cũng cố bảo cô ấy, 'Sao em không quay người?' - nhưng cô ấy không quay, cô ấy cũng bướng!

Sau sáu tháng tất cả mọi nỗ lực đều thất bại. Người Hi Lạp nói, 'Nghe đây. Nếu em không quay người em sẽ không bao giờ có con đâu.'

Thế rồi cô gái phải quay vì cô ấy muốn có con.

Người Hi Lạp giở thủ đoạn logic.

Người Hi Lạp đã từng là đồng dục trong hàng thế kỉ. Tất cả những người vĩ đại của họ đều đã từng là đồng dục. Cho nên bạn không cần lo nghĩ - bạn có lịch sử lớn đằng sau mình! Walt Whitman là người đồng dục - một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của mọi thời đại.

Dường như có cái gì đó trong tính đồng dục làm cho mọi người sáng tạo, hay người đồng dục mang tính sáng tạo. Có cái gì đó trong nó và tôi có thể thấy vấn đề này. Khi bạn dừng tạo ra trẻ con, tính sáng tạo của bạn lấy điểm rẽ mới, chiều hướng mới. Bạn sáng tạo thơ ca, bạn sáng tạo tranh vẽ.

Và những người đã từng kết án đồng dục trong nhiều thời đại cũng kết án nó vì một lí do nữa. Khi có liên quan tới quan hệ đàn ông/đàn bà, mối quan hệ này bao giờ cũng treo trên đá, bởi vì đàn ông không thể hiểu được tâm trí đàn bà, đàn bà không thể hiểu được tâm trí đàn ông. Họ là các cực cách nhau. Đó là sự hấp dẫn của họ, nhưng đó cũng là xung đột của họ, xung đột thường xuyên. Nếu đồng dục mà được phép, được chấp nhận, nỗi sợ là nhiều người sẽ lắng đọng trong nó bởi vì đàn ông có thể hiểu đàn ông khác dễ dàng hơn - họ có cùng tâm trí. Và đàn bà có thể hiểu lẫn nhau dễ dàng hơn - họ có cùng tâm trí.

Đó là lí do tại sao người đồng dục được gọi là người 'gay- hớn hở'. Họ thực sự hớn hở! Người dị dục trông buồn thế. Bất kì khi nào bạn thấy một đôi bạn lập tức biết liệu họ có lấy nhau hay không: nếu họ buồn họ đã lấy nhau, nếu họ trông đờ đẫn và chết, họ đã lấy nhau.

Hôn nhân giết chết mọi niềm vui bởi lí do đơn giản là nó tạo ra nhiều xung đột thế. Do đó mọi xã hội đều kết án đồng dục, bởi lẽ đơn giản là nếu nó không bị kết án, điều gì sẽ xảy ra cho sinh sản? Trong quá khứ nó có nghĩa nào đó, nhưng bây giờ nó không có nghĩa.

Bây giờ thời đại đã tới khi đồng dục có thể được phép, nên được chấp nhận như lối ra tự nhiên của năng lượng dục của bạn. Tôi không chống lại nó, tôi không ủng hộ nó. Tôi đơn giản nói rằng nếu bạn phải sống dục của bạn, bạn có thể chọn kiểu cách của mình, bạn được tự do chọn kiểu cách của mình. Nếu bạn quyết định ngu, ít nhất bạn sẽ được cho tự do để chọn loại ngu bạn muốn! Tôi cho bạn tự do toàn bộ.

Nỗ lực của tôi ở đây là để giúp bạn vượt ra ngoài nó, cho nên nếu bạn là đồng dục bạn phải vượt ra ngoài đồng dục, nếu bạn là dị dục bạn phải vượt ra ngoài dị dục. Và có những người khác người không là cả hai, người thủ dâm, tự dục. Họ phải vượt ra ngoài thủ dâm của mình. Con người phải siêu việt lên trên dục, dù bất kì loại dục nào, bởi vì chừng nào bạn còn chưa vượt ra ngoài sinh học của mình bạn sẽ không bao giờ biết linh hồn của mình. Nhưng trong khi đó - trước khi bạn vượt ra ngoài - tự do của bạn được là bất kì cái gì bạn muốn là.

Bạn nói, 'Tôi là người đồng dục. Tôi cảm thấy bị áp bức khủng khiếp và bị tác động bởi vết nhơ đồng dục.'

Không cần 'bị áp bức khủng khiếp.' Bạn phải chấp nhận kết án của mọi người. Sâu bên dưới bạn cũng chống lại điều đó; bằng không thì sao cảm thấy bị áp bức? Nếu mọi người chống lại, cứ để họ chống lại! Bạn không cần tuyên bố với mọi người rằng bạn là người đồng dục. Bạn không cần đi với lá cờ nói rằng bạn là người đồng dục! Bạn có thể vẫn còn là người đồng dục. Tất nhiên, bạn không thể che giấu nó bởi vì kiểu cách dục của bạn làm thay đổi ngôn ngữ thân thể bạn. Cách người đồng dục bước đi là hoàn toàn khác với người dị dục; cách người đó nói là hoàn toàn khác. Và người đó trông hớn hở thế, hạnh phúc thế!

Cho nên bạn sẽ phải vẫn còn chút ít kém hạnh phúc, có vậy thôi. Đừng trông hạnh phúc thế, và bước đi có ý thức nhiều hơn một chút, có vậy thôi. Đừng cảm thấy bị áp bức và đừng cảm thấy bị tác động bởi vết nhơ đồng dục. Điều đó tất cả đều vô nghĩa!

Và bạn nói, 'Dường như tôi sai khi tới đây để tìm cách lại gần hơn với bản thân mình và đồng thời không có đủ dũng cảm để biểu lộ bản thân mình theo cách tôi đang vậy.'

Bạn đang nói tới dũng cảm nào vậy? Ở đây không có vấn đề dũng cảm. Nếu bạn là đồng dục thì bạn là đồng dục! Ở đây không cần dũng cảm để khai báo điều đó. Ở đây bạn có thể viết lên áo sơ mi của mình, 'Tôi là người đồng dục.' Chẳng ai sẽ để ý tới điều đó. Mọi người sẽ nói, 'Vậy thì sao?'

Đây là một thế giới hoàn toàn khác. Ở đây chúng tôi chấp nhận đủ mọi loại người: lành mạnh, không lành mạnh, điên khùng - chúng tôi không có phản đối. Chừng nào bạn còn chưa bắt đầu làm hại người khác chúng tôi nào khác; không cần. Sao đi ba hoa về điều đó? Chấp nhận nó một cách im lặng, thảnh thơi trong nó.

Nhưng bạn muốn nói nó bởi vì nó đang sôi lên bên trong bạn. Đừng lo nghĩ điều người khác nói. Cứ nhìn vào bên trong bản thân bạn, điều bạn đang nói với đồng dục riêng của mình. Bạn không thoải mái với nó. Xã hội đã làm biến chất bạn, ô uế bạn. Xã hội đã cho bạn các ý tưởng. Nó đã tạo ra một lương tâm nào đó trong bạn và lương tâm đó đang cắn rứt, liên tục cảm thấy đau.

Bây giờ bạn nói, 'Thế rồi tôi muốn từ bỏ và trở về nhà để cho tôi không phải nghĩ về nó thêm nữa.'

Chỉ bằng việc trở về nhà bạn sẽ không gạt bỏ được nó. Bạn cũng sẽ không gạt bỏ được đồng dục, không gạt bỏ được vết nhơ này hay cảm giác bị áp bức này. Bạn sẽ phải vứt bỏ lương tâm của mình, cái đã được xã hội tạo ra trong bạn. Bạn sẽ phải hiểu bản thân mình và lau sạch bản thân mình khỏi mọi ý tưởng bị người khác áp đặt; chỉ thế thì bạn mới có khả năng thảnh thơi.

Bạn hỏi tôi, 'Tôi có thể làm gì?'

Hein, đừng làm ra vấn đề từ nó. Chẳng cái gì phải được làm về nó cả. Tôi không thảo luận các vấn đề cá nhân. Toàn thể cách tiếp cận của tôi là ở chỗ có hàng triệu bệnh tật, nhưng chỉ có một cách chữa, và cách chữa đó là thiền.

Bạn thiền - người đồng dục, người dị dục, người tự với đam mê hơn. Nếu nó sai nó sẽ đơn giản vứt bỏ, giống như lá khô rụng khỏi cây.

Cho nên tôi không thể gợi ý phương pháp nào cả bởi vì với tôi tất cả các vấn đề đều nảy sinh bởi vì chúng ta đã trở thành tâm trí và chúng ta đã quên mất rằng sâu bên dưới có không gian bên trong chúng ta mà có thể gọi là vô trí. Đi vào không gian đó, vô trí, sẽ cho bạn cảnh quan, cảnh nhìn, sự sáng tỏ.

Thiền đi. Ngồi im lặng quan sát ý nghĩ của bạn - đồng dục, dị dục, dù chúng là bất kì cái gì, cũng không thành vấn đề. Bạn quan sát, bạn trở thành nhân chứng. Dần dần, dần dần một khoảng cách sẽ được tạo ra giữa bạn và ý nghĩ của bạn. Và một ngày nào đó bỗng nhiên có việc nhận ra rằng bạn không phải là tâm trí. Và ngày đó cuộc cách mạng đã xảy ra bên trong bạn. Sau ngày đó bạn sẽ không bao giờ như cũ nữa. Siêu việt đã xảy ra. Sau đó, bất kì cái gì bạn làm cũng đều đúng; thế thì bạn không thể làm cái sai được. Và trước điều đó, bất kì cái gì bạn làm cũng sai.

Cho nên khi tôi nói tôi không có gì chống lại đồng dục tôi không hỗ trợ nó, nhớ lấy. Tôi không nói, 'là đồng dục đi.' Tôi cũng không có gì chống lại dị dục, nhưng tôi không hỗ trợ cho dị dục. Tôi không ủng hộ cái gì. Đây tất cả đều là trò chơi tâm trí - và bạn phải vượt ra ngoài tất cả mọi trò chơi.

Tâm trí bạn do xã hội tạo ra.

Bobby mười lăm tuổi chạy ra khỏi nhà hát nơi nó vừa xem một phim khiêu dâm.

Người quản lí dừng nó lại. 'Sao cháu chạy vội vàng thế?'

'Mẹ cháu bảo cháu,' Bobby nói, 'rằng nếu cháu nhìn vào cái gì xấu cháu sẽ hoá đá - và cháu đã bắt đầu rồi!'

Hai thành viên của câu lạc bộ Người thám hiểm của London đang thảo luận về một người bạn chung qua những cốc rượu và sô đa lớn.

'Này, tôi chết mất,' anh bạn già thứ nhất nói. 'Ông nói Parkhurst đã đi châu Phi và cưới một con khỉ hình người à?'

'Hẳn thế, ông già ơi.'

Có khoảng dừng một lúc và thành viên câu lạc bộ thứ nhất hỏi bằng giọng dè dặt, 'Con khỉ cái hình người chứ, chắc tự nhiên vậy?'

'Tất nhiên rồi,' lời đáp đưa tới. 'Không có gì đáng ngờ về lão Parkhurst cả.'

Tâm trí vận hành như tác nhân của xã hội bên trong bạn.

Đi ra ngoài tâm trí là đi ra ngoài xã hội.

Đi ra ngoài tâm trí là đi ra ngoài toàn thể lịch sử.

Đi ra ngoài tâm trí và đi ra ngoài quá khứ.

Đi ra ngoài tâm trí là đi vào trong Thượng đế.

Và thế thì bất kì cái gì xảy ra cũng đều tốt, đều đức hạnh.

Câu hỏi thứ tư:

Thưa Thầy kính yêu,

Phương Tây dường như bị ám ảnh với dục. Mọi người bị chất đầy bởi vô hạn kĩ thuật và ảnh khiêu dâm. Tại sao, trong mọi thời đại, vẫn có những người bị mắc kẹt và không thể nào đi vào trong kinh nghiệm mật tông về dục, về tình yêu và về cuộc sống?

Prem Karin, vấn đề không phải là phương Tây hay phương Đông. Cả hai đều bị ám ảnh bởi dục - tất nhiên, theo các cách khác nhau. Phương Tây mê đắm, phương Đông kìm nén, nhưng ám ảnh là một. Và vấn đề có ý nghĩa là: Tại sao phương Tây lại mê đắm thế? Chính hai nghìn năm của Ki tô giáo và phương pháp kìm nén của nó đã đem tới sự mê đắm này.

Phương Đông kìm nén; chẳng chóng thì chầy, nó sẽ trở nên mê đắm. Tâm trí con người di chuyển như con lắc, từ phải sang trái, từ trái sang phải. Và nhớ lấy, trong khi con lắc đang di chuyển sang phải nó thu lấy đà để đi sang trái, và ngược lại. Nó có vẻ như đi sang trái, nhưng nó đang thu lấy đà, năng lượng để đi sang phải. Khi xã hội bị kìm nén nó thu lấy đà để trở thành mê đắm, và khi xã hội mê đắm nó đang thu lấy đà để trở thành kìm nén.

Nên một điều kì lạ nhất định xảy ra, và thực tế, nó hàng nghìn người đã trở nên quan tâm tới nó. Và có nhiều giáo phái nảy sinh mà tất cả đều đồng ý ở một điểm: rằng dục phải bị kìm nén. Nhân danh yoga, nhân danh Thiền, nhân danh Ki tô giáo, nhiều giáo phái đang nảy sinh mà lại kìm nén. Phương Tây sẽ sớm trở nên kìm nén.

Và ở phương Đông, số tạp chí khiêu dâm đang tăng lên mọi ngày; phim khiêu dâm đang tới ngày một nhiều hơn. Phương Đông có chậm hơn chút ít trong mọi thứ, có lười hơn chút ít trong mọi thứ, cho nên nó cần lâu hơn chút ít. Phương Tây đi với tốc độ. Nhưng phương Đông đang trở thành phương Tây và phương Tây đang trở thành phương Đông, và đó là một trong những vấn đề lớn. Nếu điều này xảy ra, thế thì khổ sở vẫn còn như cũ. Con lắc lại di chuyển và bạn lại sẽ cứ làm cùng mọi điều.

Điều này đã xảy ra nhiều lần trong quá khứ. Xã hội kìm nén trở thành mê đắm chẳng chóng thì chầy. Khi kìm nén đi tới một điểm bạn không thể kìm nén nó được nữa thì nó bùng nổ: mọi người cáu tiết. Hay khi xã hội đã rất mê đắm nó bắt đầu thấy cái vô tích sự của điều đó, sự phí hoài cực kì năng lượng. Và nó không cho mãn nguyện; thay vì thế nó làm cho người ta cảm thấy ngày một thất vọng hơn. Thế thì người ta bắt đầu nghĩ tới brahmacharya - vô dục. Có thể những hiền nhân cổ đại là đúng!

Ở phương Đông điều đó cũng xảy ra nhiều lần. Tôn giáo của người Hindu, lúc ban đầu, là rất mê đắm; nó không phải là tôn giáo kìm nén. Các nhà tiên tri Hindu là người có gia đình. Họ không chỉ có gia đình, họ được phép có vài đàn bà khác là vợ lẽ của họ. Họ được phép thậm chí mua đàn bà - bởi vì vào những ngày đó ở Ấn Độ, đàn ông và đàn bà bị bán tại chợ cũng như bất kì món hàng nào.

Cẩn thận với tất cả những người cứ nói về Thời đại Vàng của Ấn Độ. Chưa bao giờ có thời đại vàng nào cả. Ngay cả trong những ngày của Rama... Người Hindu nói rất nhiều về Ramarajya - vương quốc của Rama được coi là đỉnh cao nhất. Mọi người bị bán như món hàng ở bãi chợ, và đặc biệt đàn bà bị bán chỉ là tài sản; bất kì ai cũng có thể bán, bất kì ai cũng có thể mua. Mọi người hay cho họ như món quà. Vị khách tới nhà bạn và người đó thích một trong những người đàn bà. Ngay cả cái gọi là thánh nhân cũng thường có nhiều đàn bà; họ tất cả đều mê đắm. Mọi câu chuyện về những ngày đó, ngay cả về các thần, cũng rất mê đắm.

Bạn phải đã thấy các ngôi đền Shiva - đền dành riêng cho thần Shiva. Tượng không là gì ngoài biểu tượng dương vật. Nếu bạn nhìn, nếu bạn quan sát chăm chú, bạn sẽ ngạc nhiên: nó có cả cơ quan sinh dục đàn ông và đàn bà trong nó. Nó mô tả nghĩa của đàn ông và đàn bà. Câu chuyện là thế này:

Một hôm Vishnu và Brahma tới gặp Shiva... đây là tam thể Hindu: Brahma, Vishnu, Shiva. Brahma là thần sáng tạo, Vishnu là thần duy trì và Shiva là thần phá huỷ. Cả ba đều được cần để giữ cho thế giới vận hành. Một người tạo ra, một người duy trì, một người phá huỷ; thế rồi lại một người tạo ra, người khác duy trì và người thứ ba phá huỷ. Cho nên nó vẫn còn trong luồng chảy.

Brahma và Vishnu tới gặp Shiva. Khi điều đó xảy ra, lính gác đang ngủ say, cho nên họ vào mà không xin phép gì, và Shiva đang làm tình với vợ, Parvati. Ông ấy đam mê thế trong việc đó, say thế! - ông ấy có thể đã uống ma tuý nào đó, bởi vì ông ấy được mọi người hoàn toàn biết rõ là đã dùng ma tuý. Cần sa và dầu gai và thuốc phiện tất cả đều được ông ấy dùng.

Ông ấy tiếp tục làm tình và hai thần kia đứng đó xem. Những thần lớn lao! Họ thậm chí không thể nói, 'Chúng tôi xin lỗi,' và đi ra. Họ phải tận hưởng cảnh đó - ảnh khiêu dâm sống! Sáu giờ liên tục, làm tình, và hai thần này đứng đó trong sáu giờ xem. Một cuốn phim xanh dài! - và chẳng có gì khác, chỉ toàn làm tình! Không có sự vụ gì khác, không cái gì khác... chỉ Shiva làm tình với vợ. Nhưng họ rất giận.

Khi Shiva được kết thúc họ bảo ông ấy, 'Chúng tôi đã đợi ông suốt sáu giờ và ông thậm chí đã không thèm để ý gì tới chúng tôi. Chúng tôi rất giận và chúng tôi nguyền rủa ông rằng ông sẽ được người đời nhớ mãi mãi và mãi mãi bởi bộ phận dục của ông.'

Đó là lí do tại sao trong đền Shiva bạn thấy biểu tượng dương vật: Shiva được nhớ tới bởi bộ phận dục của ông ta.

Bây giờ, những người Hindu này phải đã rất mê đắm. Thần của họ nữa, cũng rất mê đắm. Nhưng thế rồi tới phản ứng, con lắc chuyển đi. Phật giáo và Jaina giáo nổi dậy chống lại mê đắm này và họ đã tạo ra thế giới rất kìm nén, đạo đức kìm nén.

Ấn Độ vẫn sống dưới ảnh hưởng đó, nhưng nó đang chuyển dần dần, dần dần hướng tới mê đắm. Phương tây đang ảnh hưởng nó - phim phương Tây, tiểu thuyết phương Tây đang ảnh hưởng nó. Phương Tây bị ảnh hưởng bởi Phật, bởi Zen, bởi Patanjali, bởi yoga, bởi thiền, và phương Đông bị ảnh hưởng bởi Playboy! Mọi người đang đọc Playboy, giấu nó dưới cuốn Gita của họ!

Prem Karin, bạn hỏi, 'Phương Tây dường như bị ám ảnh với dục.'

Điều đó không chỉ đúng về phương Tây. Cả nhân loại, mãi cho tới giờ, đã vẫn còn bị ám ảnh với dục, và nó sẽ vẫn còn như vậy chừng nào chúng ta còn chưa thay đổi toàn thể động thái. Mãi cho tới giờ động thái đã từng là kìm nén/mê đắm, mê đắm/kìm nén, cứ chuyển giữa hai điều này. Chúng ta phải dừng đích xác ở giữa. Bạn đã bao giờ thử dừng con lắc đồng hồ ở giữa không? Điều gì xảy ra? Đồng hồ dừng lại. Thời gian dừng lại.

Đó là nỗ lực của tôi ở đây. Tôi không muốn bạn mê đắm và tôi không muốn bạn kìm nén. Tôi muốn bạn được cân bằng, ở chính giữa. Chính ở chính giữa mà siêu việt là có thể, và chính ở chính giữa mà chúng ta có thể tạo ra nhân loại, cái không phải là phương Đông không là phương Tây. Và điều được cần vô cùng, cần khẩn thiết, là con người tới trên trái đất không là người phương Đông không là người phương Tây: một loại người mới với cảnh nhìn mới, tự do khỏi mọi tù túng của quá khứ.

Bạn hỏi, 'Tại sao, trong mọi thời đại, vẫn có những người bị mắc kẹt và không thể nào đi vào trong kinh nghiệm mật tông về dục, về tình yêu và về cuộc sống?'

Kinh nghiệm mật tông nghĩa là không kìm nén không mê đắm. Kinh nghiệm mật tông là có thể chỉ nếu bạn đi sâu vào trong thiền, bằng không thì không thể. Khi bạn trở nên rất, rất tĩnh lặng, im lặng, nhận biết, tỉnh táo, chỉ thế thì mới có khả năng là bạn sẽ biết cái gì đó của Mật tông. Bằng không, Mật tông cũng có thể trở thành cái cớ cho mê đắm - cái tên mới, tên tôn giáo. Và bạn có thể đi vào trong mê đắm nhân danh Mật tông. Các tên sẽ không làm thay đổi gì mấy; bản thể bạn cần thay đổi.

Zelda, ngựa vằn Do Thái, đang bước theo làn đường quê, chỗ nào đó ở vùng hoang vu của Pennsylvania. Chẳng mấy chốc nó đi tới một bầy cừu.

'U-hu, xin hỏi tôi có thể nói với các bạn được không?' nó gọi.

Một trong những con cừu tới hàng rào. 'Chị định nói gì?'

'Tôi đại diện cho Hiệp hội ngựa vằn Hadassah Nam Phi. Anh là cừu Do Thái à?'

'Ôi vâng, chúng tôi tất cả đều là Do Thái ở đây.' 'Thế này, tôi đang làm chuyến đi tìm sự kiện. Ngựa vằn chúng tôi quan tâm tới việc học cách con vật Do Thái ở Mĩ kiếm sống. Anh cảm phiền nói cho tôi biết anh đang làm loại việc gì?'

'Tôi làm gì à?' con cừu này kêu lên. 'Đó là loại câu hỏi gì vậy? Tôi cho len, còn gì khác nữa? Mọi năm họ xén lông và mùa sau họ lại làm cùng điều đó. Có gì khác ở Nam Phi không?'

'Ồ không, nó cũng hệt vậy. Thế này, tôi phải chạy đi đây. Ta-ta, và cám ơn lòng tốt của anh.'

Zelda tiếp tục sứ mệnh đi tìm sự kiện cho tới khi nó gặp một con bò cái.

'Tôi xin lỗi, thưa bà, tôi là từ Hiệp hội ngựa vằn Hadassah Nam Phi. Tôi đang phỏng vấn các con vật nội địa Do Thái-Mĩ. Xin bà vui lòng mô tả về công việc của bà?'

'Thật là vui mừng,' con bò lẩm bẩm. 'Tôi được người ăn kiêng hàng ngày sử dụng, bản thân tôi là người chính thống, tất nhiên. Công việc của tôi, chị hỏi à? Thế này, tôi là giống Guernsey thuần chủng, và tôi cho sữa loại A. Tôi sống đó trong cái chuồng trắng xinh kia. Rất tiếc tôi không thể mời chị vào được, nhưng chúng tôi không mong đợi bạn đồng hành và chỗ này là đống lộn xộn.'

'Điều đó hoàn toàn phải thôi. Cám ơn chị cho thông tin. Chị giúp ích nhiều nhất đấy. Taaạm-biệt.'

Một thời gian ngắn sau, Zelda thấy một chú ngựa giống trên đồng cỏ, và không có nhầm lẫn gì về tính Do Thái của nó. Nó tình cờ thấy cô ngựa vằn ngay khoảnh khắc đó. Nó xông ra hàng rào, trượt tới chỗ dừng cách bốn bước và đừng lù lù trước ngựa vằn với cái mũi phận phồng.

'Và anh làm cái gì thế, thưa anh?' ngựa vằn hỏi một cách bẽn lẽn.

'Em yêu, em cứ tụt cái bộ áo ngủ làm cảnh kia ra đi,' nó nói, 'và anh sẽ chỉ cho em điều anh làm!'

Toàn thể nhân loại đang chịu đựng ám ảnh, hoặc qua mê đắm hoặc qua kìm nén. Toàn thể nhân loại quan tâm tới dục hai mươi bốn giờ một ngày.

Các nhà tâm lí đã phát hiện ra rằng mọi đàn ông đều nghĩ tới đàn bà ít nhất một lần trong ba phút, và mọi đàn bà đều nghĩ tới đàn ông ít nhất một lần trong sáu phút. Điều đó có thể gây ra đủ vấn đề - sự khác biệt này; điều đó có thể là toàn thể rắc rối giữa đàn ông và đàn bà.

Dục Mật tông không phải là dục chút nào; nó là thiền. Thiền phải lan toả khắp cuộc sống của bạn. Bất kì điều gì bạn làm, làm một cách có tính thiền. Bước đi có tính thiền, ăn có tính thiền. Nếu bạn làm tình, làm tình có tính thiền. Thiền phải trở thành cuộc sống của bạn hai mươi tư giờ một ngày; chỉ thế thì mới có biến đổi. Thế thì bạn vượt ra ngoài dục, bạn vượt ra ngoài thân thể, bạn vượt ra ngoài tâm trí. Và lần đầu tiên bạn trở nên nhận biết về tính thượng đế, về cực lạc, về phúc lạc, về chân lí, về giải thoát.

Câu hỏi cuối cùng:

Thưa Thầy kính yêu,

Tại sao người Ấn Độ là người kiêu hãnh thế?

Paul, Trời biết! Họ chẳng có lí do nào để thế cả. Tôi cũng ngạc nhiên. Chẳng có gì - nhưng bản ngã níu bám lấy bất kì cái gì hay nó bịa ra cái gì đó. Ấn Độ cứ bịa ra quá khứ đẹp. Nó là bịa đặt, thuần bịa đặt. Nó chưa bao giờ có đó, nó chưa bao giờ tồn tại.

Vâng, đã từng có những người như Krishna và Mahavira và Phật, nhưng họ không phải là người Ấn Độ chút nào. Jesus không phải là người Do Thái và Lão Tử không phải là người Trung Quốc. Những người này là người phổ quát; không ai có thể giành họ được. Toàn thể trái đất thuộc về họ; họ là di sản kế thừa chung của chúng ta, cho nên bạn không thể ba hoa về họ được.

Nhưng mọi nước đều phải bịa ra cái gì đó để cảm thấy thoải mái. Cũng như cá nhân cần bản ngã, các nước cần bản ngã, giống nòi cần bản ngã, tôn giáo cần bản ngã. Và ngườiẤn Độ có bản ngã cực kì lớn. Họ nghĩ họ là người tâm linh nhất trên trái đất, và đó chỉ là chuyện phù phiếm! Chính ý tưởng này là phi tâm linh.

Có tính tâm linh nghĩa là khiêm tốn. Có tính tâm linh nghĩa là là không ai cả. Có tính tâm linh nghĩa là không thuộc vào nước nào, quốc gia nào. Có tính tâm linh nghĩa là không là người Hindu, không là người Mô ha mét giáo, không là người Ki tô giáo. Nhưng thậm chí tâm linh đang được dùng như một cái giá đỡ.

Điều đó xảy ra mọi ngày: vài người Ấn Độ tới, thỉnh thoảng thôi, những người không hiểu tôi... bởi vì không thể hiểu được tôi nếu bạn tới một lần như khách thăm chỉ nhìn quanh. Bạn không thể hiểu được tôi nếu bạn tới như khách du lịch. Người Ấn Độ tới, nhưng họ tới chỉ như khách thăm.

Và vài người Ấn Độ đã trở nên bị cuốn hút trong công xã của tôi, người đã trở thành sannyasins, tôi không tính họ là người Ấn Độ nữa. Họ đã trở thành phổ quát. Đó là tình huynh đệ phổ quát.

Nhưng khi những người Ấn Độ mới tới họ là người Ấn Độ, rất nhiều tính Ấn Độ. Và họ mang bản ngã làm sao! Khi tôi đi qua Phòng Phật với tay chắp lại, đầu cúi xuống phía họ trong tình yêu, trong lời cầu nguyện, trong lời chào, họ thậm chí không đáp ứng. Họ ngồi như đá. Thậm chí họ không thể bày tỏ một cử chỉ chính thức. Họ trông xuẩn thế, ngu thế, và tôi cảm thấy tiếc thế! Làm sao giúp họ được? Những người này dường như ở ngoài sự giúp đỡ, ngoài cách tiếp cận. Và họ nhìn toàn thể đại dương các sannyasins đang chắp tay cúi đầu một cách vui sướng, đáp lại trong tình yêu, giao cảm, nhưng họ không thể làm được điều đó. Họ chỉ ngồi đó như tảng đá chết. Kì lạ... nhưng không kì lạ thế bởi vì sâu bên dưới họ nghĩ họ đã biết. Sâu bên dưới họ nghĩ họ là người kế thừa vĩ đại của truyền thống tâm linh. Họ biết Veda và Gita và Upanishad.

Tôi quan sát họ, tôi quan sát tính tâm linh của họ. Họ không nhìn tôi - họ nhìn vào xe Rolls Royce của tôi! Đó là lí do tại sao tôi đã yêu cầu thư kí của tôi đem tới một xe Rolls Royce: ít nhất với người Ấn Độ phải có cái gì đó để nhìn! Họ quan tâm nhiều tới chiếc xe hơn - và họ là người tâm linh, không phải duy vật! Khi họ tới đạo tràng này, câu hỏi đầu tiên họ hỏi người hướng dẫn ở đây là, 'Xe Rolls đâu rồi?' Họ không quan tâm tới việc nhìn thiền, họ không quan tâm tới việc nhìn vũ công Sufi, họ không quan tâm tới việc nhìn Vipassana, họ không quan tâm tới cái gì. 'Xe Rolls đâu rồi?' Toàn thể tâm trí của họ đều duy vật, nhưng họ cứ giả vờ có tính tâm linh. Và bạn bao giờ cũng có thể bịa ra cái gì đó này khác.

Nước này nghèo cho nên họ không thể ba hoa về giầu có được. Nước này vô giáo dục, họ không thể ba hoa về giáo dục được. Nước này lạc hậu về công nghệ, họ không thể ba hoa về công nghệ được. Cho nên họ xông vào cái gì đó vô hình: tính tâm linh. Bạn bao giờ cũng có thể ba hoa về tính tâm linh. Chẳng ai có thể bác bỏ được nó. Tất nhiên, bạn không thể chứng minh được nó, nhưng một điều tốt về tính tâm linh là ở chỗ nó không thể bị bác bỏ. Cho nên bạn có thể cứ nói về tính tâm linh của mình - điều chả tồn tại ở đâu cả, điều chưa bao giờ tồn tại.

Các cá nhân đã từng là con người tâm linh, xã hội chưa bao giờ thế. Chúng ta vẫn phải đợi cái ngày vĩ đại đó khi sẽ có nhiều cá nhân thức tỉnh tới mức xã hội sẽ bắt đầu có mầu sắc tâm linh. Mãi cho tới giờ, điều đó đã không xảy ra. Cho tới nay nó đã không xảy ra; nó chỉ là hi vọng. Nhưng mọi tôn giáo đều tin rằng họ có tính tôn giáo. Chỉ tin vào ý tưởng nào đó cho bạn cảm giác giả tạo về việc có tính tôn giáo. Và bất kì khi nào bạn bắt gặp một người tôn giáo thực bạn đều co lại, bạn trở nên sợ hãi.

Do đó họ chống lại tôi - họ nhất định chống lại tôi. Tôi làm tan tành tất cả cấu trúc của họ. Tôi làm tan tành toàn thể hình mẫu bản ngã của họ. Tôi đang cố gắng đem họ xuống đất, về thực tại - và điều đó gây đau.

Ấn Độ chưa bao giờ chống lại bất kì ai như Ấn Độ chống lại tôi, bởi lẽ đơn giản là không ai đã bao giờ làm tan tành bản ngã của họ. Tôi đang làm mọi nỗ lực để làm tan tành bản ngã của họ bởi vì đó là hi vọng duy nhất. Nếu Ấn Độ mất bản ngã của nó, có khả năng của tái sinh. Nước này có thể được tái sinh. Nó có tiềm năng lớn. Nó có cùng tiềm năng như khi bạn không dùng cánh đồng trong nhiều, nhiều năm, bạn không trồng bất kì mùa màng nào, và cánh đồng trở thành ngày một tiềm năng hơn mọi năm.

Trong hàng thế kỉ Ấn Độ đã không phát triển bất kì sáng tạo nào. Nó đã trở thành nước tiềm năng nhất trên thế giới. Nếu nó bùng nổ trong sáng tạo nó thực sự sẽ là cái gì đó lớn lao, cái gì đó có hậu quả lớn lao cho toàn trái đất. Nhưng trước khi điều đó có thể xảy ra cái vỏ của hạt mầm phải bị đập ra, phải bị vỡ ra.

Tôi sẽ bị kết án, phê phán, bác bỏ; điều đó nhất định là định mệnh của tôi. Nhưng tôi là niềm hi vọng duy nhất. Nếu tôi thành công trong việc giúp đỡ vài người Ấn Độ thông minh thoát ra khỏi bản ngã đóng kín của họ vào trong chỗ rộng mở, điều đó sẽ giúp đỡ không chỉ Ấn Độ mà toàn thế giới. Nó sẽ là đóng góp lớn lao cho sự trưởng thành của tâm thức.

Điều đó là có thể, và các bạn tất cả ở đây là để giúp cho điều đó xảy ra.

Đủ cho hôm nay.


Mục lục chính