Lời tựa cuốn sách Nghệ Thuật Sống

MỤC LỤC - Nghệ Thuật Sống

Lời tựa cuốn sách " Nghệ Thuật Sống "


Trong nhiều loại thiền trên thế giới ngày nay, phương pháp Vipassana do Thiền sư S. N. Goenka dạy là độc nhất vô nhị. Kỹ thuật đơn giản và hợp lý này dẫn tới sự bình an thật sự cho tâm hồn và một đời sống hạnh phúc, hữu ích. Đã được giữ gìn từ lâu trong cộng đồng Phật giáo Miến Điện, Vipassana không có tính chất giáo phái, bất cứ người nào cũng có thể chấp nhận và áp dụng.Thiền sư S. N. Goenka là một kỹ nghệ gia hồi hưu, một cựu lãnh tụ của cộng đồng Ấn ở Miến Điện. Sinh trưởng trong một gia đình theo Ấn Độ giáo (Hindu) bảo thủ, từ thuở thiếu thời ông đã bị những cơn đau nửa đầu nghiêm trọng. Việc tìm cách trị bệnh đã dẫn dắt ông đến gặp Sayagyi U Ba Khin năm 1955, một công chức cao cấp trong chính phủ đồng thời cũng là một thiền sư. Học Vipassana từ U Ba Khin, ông Goenka đã tìm thấy một phương pháp vượt hơn cả việc làm giảm nhẹ triệu chứng bệnh tật thể chất đồng thời cũng vượt qua cả những rào cản văn hóa và tôn giáo. Vipassana dần dần chuyển hóa cuộc đời ông trong những năm thực hành và nghiên cứu dưới sự dẫn dắt của thầy.Năm 1969, ông được U Ba Khin cho phép dạy thiền. Trong cùng năm ông về Ấn Độ và bắt đầu dạy Vipassana ở đây, giới thiệu lại kỹ thuật này ở nơi đã khai sinh ra nó. Trong một đất nước còn bị chia rẽ trầm trọng bởi giai cấp và tôn giáo, những khóa học của ông Goenka đã lôi cuốn được hàng ngàn người ở mọi tầng lớp. Hàng ngàn người phương Tây cũng đã tham dự những khóa thiền Vipassana vì bị thu hút bởi tính chất thực tiễn của kỹ thuật này.


Những phẩm tính của Vipassana đã được chính ông Goenka nêu gương minh họa trong đời sống. Ông là người thực tế, tiếp xúc với thực tiễn cuộc sống hằng ngày và có thể ứng xử một cách bén nhạy, nhưng trong mọi tình huống ông đều giữ được sự bình tâm phi thường. Cùng với sự bình tâm là lòng thương yêu sâu xa đối với người khác, một khả năng cảm thông hầu như với bất cứ người nào. Tuy nhiên ông không quá nghiêm túc đạo mạo; ông có nét hài hước duyên dáng thường biểu lộ trong những lúc giảng dạy. Những người theo học còn nhớ mãi những nụ cười, những tràng cười lớn và câu châm ngôn ông thường lặp lại nhiều lần: “Hãy hạnh phúc!” Rõ ràng Vipassana đã mang hạnh phúc đến cho ông, và ông nhiệt tình muốn chia sẻ hạnh phúc đó với người khác bằng cách chỉ cho họ kỹ thuật đã vô cùng hiệu quả với ôngBất chấp sự cuốn hút của mình, ông Goenka không muốn trở thành một đạo sư (guru) biến đệ tử của mình thành người máy. Trái lại, ông dạy họ phải tự nhận trách nhiệm. Ông nói, sự thử thách thật sự của Vipassana là áp dụng nó trong đời sống. Ông khuyến khích thiền sinh đừng sùng bái theo chân ông mà hãy ra đi và sống hạnh phúc giữa cuộc đời. Ông né tránh mọi biểu hiện sùng bái đối với ông, và hướng dẫn thiền sinh hãy tận tụy hết lòng với phương pháp, với sự thật mà họ tìm thấy trong chính họ.Ở Miến Điện, theo truyền thống chỉ có các vị tu sĩ Phật giáo được đặc quyền dạy thiền. Tuy nhiên, cũng giống như thầy mình, ông Goenka là cư sĩ và làm chủ một gia đình lớn, nhưng chính sự dễ hiểu của những gì ông dạy và hiệu quả của kỹ thuật thiền này đã giành được sự chấp thuận từ các vị sư trưởng lão ở Miến Điện, Ấn Độ và Sri Lanka,

và một số trong các vị này cũng tham dự những khóa thiền dưới sự hướng dẫn của ông.Để duy trì sự thuần khiết, ông Goenka nhấn mạnh, thiền không bao giờ được thương mại hóa. Các khóa thiền và trung tâm dưới sự hướng dẫn của ông đều đặt trên căn bản bất vụ lợi. Ông và những thiền sư phụ tá (những người được ông cho phép thay ông giảng dạy trong các khóa thiền) không nhận thù lao nào dù trực tiếp hay gián tiếp. Ông truyền bá kỹ thuật Vipassana như một công việc phụng sự cho nhân loại, để giúp những người cần được giúp.S. N. Goenka là một trong số ít các nhà lãnh đạo tinh thần Ấn Độ được kính trọng ở Ấn cũng như ở phương Tây. Tuy nhiên ông không bao giờ tìm cách quảng cáo pháp Thiền Vipassana mà thích nhờ vào sự truyền miệng hơn. Ông luôn luôn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của sự hành thiền hơn là chỉ viết về thiền. Vì lý do này, ít người biết đến ông hơn so với mức độ mà ông xứng đáng có được. Đây là quyển sách đầu tiên nghiên cứu đầy đủ về sự giảng dạy của ông, được soạn thảo dưới sự chỉ dẫn của ông và được ông chấp thuận.Nguồn tài liệu chính cho cuốn sách này là những bài giảng của ông Goenka trong khóa thiền Vipassana mười ngày và ở mức độ ít hơn là một số bài viết bằng tiếng Anh của ông. Tôi đã sử dụng những tài liệu này một cách không hạn chế, không chỉ mượn cách lý luận hay sắp xếp các vấn đề cụ thể, mà còn mượn cả những thí dụ trong bài giảng, và thường xuyên là ghi lại cách dùng chữ của ông, thậm chí sử dụng nguyên câu. Đối với những người đã tham dự lớp thiền do ông dạy, chắc chắn sẽ thấy phần lớn cuốn sách này đều quen thuộc, và họ thậm chí có thể xác định được bài giảng hay bài viết nào đã được sử dụng ở phần nào đó trong sách.

Trong khóa học, những bài giảng của thầy được đưa ra tương ứng với từng bước thực nghiệm của thiền sinh khi hành thiền. Ở đây, các bài giảng ấy được sắp xếp lại cho thuận lợi hơn với một đối tượng khác, những người chỉ đọc về thiền mà không nhất thiết đã từng thực hành. Đối với những độc giả này, chúng tôi cố gắng trình bày bài giảng chính xác như đã thực sự được áp dụng: một tiến trình hợp lý liên tục từ bước đầu đến bước cuối. Tiến trình trọn vẹn này đối với thiền sinh thì rất rõ ràng, nhưng tác phẩm này cố gắng cung cấp cho những người không hành thiền một cái nhìn tổng quát về những nội dung giảng dạy đúng như chúng được trình bày với những người thực hành.Có những phần trong sách được cố ý giữ nguyên cách nói của ông Goenka để có thể truyền đạt một cách sống động hơn cách giảng dạy của ông. Những phần này là những câu chuyện xen giữa các chương sách và những đoạn vấn đáp ở cuối chương, ghi lại từ các cuộc thảo luận thực sự trong khóa thiền hay những cuộc hỏi đáp riêng. Một vài chuyện được rút từ những sự kiện trong đời Đức Phật, một số khác là từ di sản cổ tích phong phú của Ấn Độ, và một số khác nữa từ kinh nghiệm riêng của ông Goenka. Tất cả đều dùng chính lời ông, không phải với ý định làm cho nguyên tác hay hơn, nhưng chỉ để trình bày câu chuyện theo cách mới mẻ, nhấn mạnh sự liên quan của câu chuyện đến việc hành thiền. Những chuyện này làm giảm nhẹ đi không khí trang nghiêm của khóa thiền Vipassana và tạo hứng khởi bằng cách minh họa những điểm chính của giáo huấn dưới hình thức dễ nhớ. Rất nhiều những câu chuyện như vậy đã được kể trong một khóa thiền 10 ngày, nhưng chỉ một số được chọn đưa vào đây.Những trích dẫn được lấy từ những văn bản kinh điển cổ xưa nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất: Kinh tạng

(Pitaka Sutta) viết bằng chữ Pāli cổ xưa được bảo tồn ở các quốc gia theo Phật giáo Theravada. Để giữ sự thống nhất trong cả cuốn sách, tôi đã cố gắng dịch mới tất cả những đoạn được trích, có tham khảo theo bản dịch của những dịch giả hàng đầu hiện nay. Tuy nhiên, vì đây không phải là một công trình học thuật, nên tôi không cố dịch chính xác theo từng chữ từ văn bản Pāli, mà chỉ cố gắng diễn đạt ý nghĩa của đoạn văn bằng một ngôn từ thật dễ hiểu đối với thiền sinh Vipassana dưới ánh sáng kinh nghiệm thiền của họ. Có thể sự chuyển dịch một số từ ngữ hay đoạn văn dường như không theo chuẩn mực chính thống, nhưng tôi hy vọng về mặt ý nghĩa thì bản Anh ngữ luôn bám sát được ngữ nghĩa chính xác nhất của nguyên bản.Để được nhất quán và chuẩn xác, những thuật ngữ Phật học dùng trong sách này được ghi bằng tiếng Pāli, dù trong vài trường hợp tiếng Sankrit có thể quen thuộc với độc giả Anh ngữ hơn. Thí dụ chữ Pāli dhamma được dùng thay vì chữ Sanskrit dharma, kamma thay cho karma, nibbāna thay nirvāna, saṅkhāra thay saṃskāra. Để dễ hiểu hơn, những chữ Pāli khi dùng ở số nhiều sẽ được thêm chữ s theo văn phạm Anh. Nói chung những chữ Pāli dùng trong sách được giới hạn tới mức tối thiểu để tránh sự tối nghĩa không cần thiết. Tuy nhiên, chúng thường tiện lợi để diễn tả gọn gàng những khái niệm không quen thuộc với tư tưởng phương Tây, không dễ dàng diễn tả bằng một chữ trong Anh ngữ. Vì lý do này, có những nơi việc dùng chữ Pāli có vẻ như tốt hơn so với một cụm từ tiếng Anh dài dòng. Tất cả những chữ Pāli được in đậm [trong bản tiếng Anh] đều được định nghĩa trong phần chú giải ở cuối sách. Kỹ thuật Vipassana mang lại lợi ích đồng đều cho tất cả mọi người tập, không phân biệt nòi giống, giai cấp, nam nữ. Để trung thành với tiêu chuẩn này, tôi tránh dùng danh từ chỉ tính phái trong sách. Ở một vài chỗ tôi dùng

chữ “he” để chỉ thiền sinh nói chung. Xin độc giả hiểu rằng cách dùng này không có ý phân biệt nam nữ. Chúng tôi không có ý định chỉ nói đến phái nam mà gạt phái nữ ra ngoài, vì điều đó trái với sự giảng dạy và tinh thần của Vipassana.Tôi xin cám ơn rất nhiều người đã giúp đỡ trong công trình này. Đặc biệt xin cảm ơn sâu xa ông Goenka, mặc dầu bận rộn, đã dành thì giờ để xem xét tác phẩm trong khi đang tiến hành và hơn thế nữa là đã dẫn dắt tôi trên con đường đạo được diễn tả trong sách.Trên bình diện sâu xa hơn, tác giả thật sự của cuốn sách này là S. N. Goenka, vì mục đích của tôi chỉ là trình bày sự truyền bá giáo huấn của Đức Phật qua phương pháp của ông. Công quả của tác phẩm này thuộc về ông, còn những gì thiếu sót tôi xin chịu trách nhiệm.
William Hart

Dẫn nhập (nghệ thuật sống)


Dẫn nhập (nghệ thuật sống)


Giả sử bạn có cơ hội buông bỏ mọi trách nhiệm với  đời trong mười ngày, sống ở một nơi yên tịnh,  vắng vẻ không bị phiền nhiễu. Ở đó bạn được lo cho ăn ở  đầy đủ và có người sẵn sàng giúp đỡ để bạn được thoải mái.  Đổi lại, ngoài những hoạt động cần thiết và giờ ngủ, trong  lúc thức bạn chỉ cần tránh mọi giao tiếp với người khác,  dùng hết thì giờ để nhắm mắt, chú tâm vào một đối tượng  đã được chọn. Bạn có chấp nhận đề nghị này không? Giả sử bạn mới chỉ nghe có cơ hội như thế, và có những  người như bạn không những muốn mà còn nhiệt tâm dùng  thì giờ rảnh theo lối này, thì bạn sẽ mô tả hoạt động của họ  như thế nào? Bạn có thể nói: “Trầm tư mặc tưởng, hướng  vào nội tâm hay hướng ra bên ngoài, hay suy ngẫm, trốn  đời hay tĩnh tâm, tự đầu độc hay tìm kiếm bản ngã.” Dù  ghi nhận là tích cực hay tiêu cực thì ấn tượng chung về  thiền là một sự lẩn tránh cuộc đời. Dĩ nhiên, có những kỹ  thuật tiến hành theo chiều hướng này. Nhưng thiền không  nhất thiết phải là một sự trốn chạy. Nó cũng có thể là một  phương tiện nhập thế để hiểu đời và hiểu mình. Mọi con người đều bị điều kiện hóa để luôn nghĩ rằng  thế giới thật phải nằm ở bên ngoài, và cách sống ở đời là  phải tiếp xúc với thực tại bên ngoài bằng cách tìm kiếm  những tín hiệu tinh thần cũng như vật chất được đưa vào  từ bên ngoài. Hầu hết chúng ta không bao giờ cân nhắc  việc chia chẻ phân tích những tiếp xúc hướng ngoại để xem  điều gì xảy ra bên trong. Ý tưởng làm như vậy nghe có vẻ  giống như chọn dành ra hàng giờ để nhìn chăm chăm vào  khung thử màu trên màn ảnh tivi. Chúng ta thích việc

khám phá nửa tối của mặt trăng hay bên dưới đáy đại  dương hơn là những gì sâu kín trong ta. Nhưng trong thực tế vũ trụ hiện hữu đối với mỗi người  chúng ta chỉ khi ta trải nghiệm nó với thân và tâm. Nó  không bao giờ hiện hữu ở nơi nào ngay tại đây và ngay bây  giờ. Bằng sự tìm tòi cái bây giờ và ở đây của chính mình,  chúng ta có thể khám phá thế giới. Trừ phi khảo sát được  thế giới nội tâm, bằng không thì chúng ta sẽ không bao giờ  khám phá được thực tại - chúng ta sẽ chỉ biết đến những  niềm tin của ta về thực tại, hoặc những khái niệm lý trí  của chúng ta về nó. Tuy nhiên, bằng cách tự quan sát chính  mình, chúng ta có thể trực nghiệm thực tại và có thể học  cách ứng phó với thực tại một cách tích cực và sáng tạo. Một phương pháp để khám phá thế giới nội tâm là  thiền Vipassana được thiền sư S. N. Goenka giảng dạy.  Đây là cách thực tiễn để khảo sát thực tại thân tâm của  chính mình, để phát hiện và giải quyết bất kỳ bất ổn nào  tiềm ẩn trong đó, để phát triển tiềm năng và hướng đến sự  tốt đẹp cho bản thân và người khác. Trong tiếng Pāli, Vipassana có nghĩa là “tuệ giác, tuệ  chứng”. Nó là tinh túy giáo huấn của Đức Phật, là kinh  nghiệm thực sự về sự thật mà Đức Phật nói ra. Chính Đức  Phật đã đạt được kinh nghiệm này nhờ hành thiền. Do  đó, Ngài giảng dạy chủ yếu là thiền. Những lời Ngài nói  là bằng chứng về kinh nghiệm thiền của ngài cũng như là  những chỉ dẫn chi tiết về cách hành thiền sao cho đạt được  mục đích mà Ngài đã đạt được - chứng nghiệm sự thật. Điều này đã được nhiều người chấp nhận rộng rãi,  nhưng vấn đề còn lại là làm sao để hiểu và thực hành theo  những lời Phật dạy. Trong khi những lời Phật dạy được lưu  giữ trong các bản văn được thừa nhận là có độ tin cậy, thì  việc nhận hiểu những chỉ dẫn hành thiền của ngài lại khó

hiểu nếu không được đặt trong một bối cảnh thực hành  sống động. Nhưng nếu một kỹ thuật được bảo tồn từ nhiều thế  hệ, giúp mang lại đúng những kết quả như Đức Phật mô  tả và phù hợp chính xác với những chỉ dẫn của Ngài, soi  sáng những điểm trong đó mà từ lâu nay vẫn còn mù mờ,  thì kỹ thuật đó chắc chắn rất đáng để chúng ta tìm hiểu.  Vipassana là một phương pháp như thế. Nó là một kỹ  thuật khác thường ở sự đơn giản, không có giáo điều, và  quan trọng nhất là những kết quả mà nó mang lại. Thiền Vipassana được dạy trong những khóa thiền 10  ngày, dành cho bất cứ ai thực lòng muốn học và có thể lực  cũng như tinh thần thích hợp để thực hành. Trong 10 ngày  này, những người tham dự cư trú trong khuôn viên khóa  thiền, không liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ không được  đọc và viết cũng như không thực hành bất kỳ nghi thức tôn  giáo hay phương pháp tập luyện nào khác, chỉ làm đúng  theo sự chỉ dẫn. Trong toàn khóa học, họ phải giữ những  giới căn bản, trong đó có việc cử tình dục và không dùng  rượu bia. Họ phải giữ im lặng khi sinh hoạt chung trong  chín ngày đầu, tuy nhiên họ được tự do thảo luận những  khó khăn về thiền với các thiền sư và những nhu cầu vật  chất với ban quản trị. Trong ba ngày rưỡi đầu, những người tham dự thực  hành bài tập chú tâm. Đây là sự chuẩn bị để đi vào phần  kỹ thuật chính của Vipassana, phần này được dạy vào ngày  thứ tư của khóa thiền. Những bước tiếp theo của phương  pháp được giới thiệu mỗi ngày, sao cho đến cuối khóa học  thì toàn bộ kỹ thuật này đã được trình bày qua những nét  chính yếu. Vào ngày thứ mười, sự im lặng được bãi bỏ, và  thiền sinh chuyển tiếp về đời sống hướng ngoại nhiều hơn.  Khóa học kết thúc vào sáng ngày thứ mười một

Kinh nghiệm mười ngày rất có thể sẽ có một số điểm  ngạc nhiên cho thiền sinh. Trước hết, thiền là một công  việc khó nhọc. Quan niệm thông thường cho rằng thiền  là không làm gì cả hay một sự nghỉ ngơi sẽ nhanh chóng  được nhận ra là một sự hiểu lầm. Cần phải có sự vận dụng  liên tục để hướng tiến trình của tâm theo đường hướng cụ  thể một cách có ý thức. Theo chỉ dẫn là phải nỗ lực hết sức  nhưng không căng thẳng, nhưng trước khi thiền sinh học  được cách làm đúng như vậy thì sự hành thiền có thể chán  nản và thậm chí là mệt nhoài Điều ngạc nhiên khác nữa có thể nói ngay là tuệ giác có  được qua sự quan sát chính mình không phải bao giờ cũng  dễ chịu và sảng khoái. Thông thường, khi quan sát chính  mình chúng ta thường rất chọn lọc. Khi soi gương, chúng  ta thường chọn khía cạnh đẹp đẽ, vẻ mặt dễ thương nhất.  Cũng vậy, chúng ta có một hình ảnh trong tâm nhấn mạnh  vào những đặc tính đáng được chiêm ngưỡng, giảm thiểu  những khuyết điểm, và loại bỏ luôn một vài khía cạnh của  tính nết. Chúng ta nhìn hình ảnh mà ta muốn nhìn, không  phải thực tại. Nhưng Vipassana là một kỹ thuật quan sát  thực tại từ mọi khía cạnh. Thay vì thận trọng sửa đổi hình  ảnh chính mình, thiền sinh phải đối diện với toàn bộ sự thật  không cắt xén. Một vài khía cạnh trong đó rất có thể là khó  chấp nhận. Trong khi hành thiền, đôi lúc thay vì tìm được sự bình  an nội tâm thì ta lại chỉ thấy bị dao động. Tất cả những  gì về khóa thiền hình như đều không thể thực hành được,  không thể chấp nhận được, như thời khóa biểu quá nặng,  chỗ ăn ở, kỷ luật, những chỉ dẫn và lời khuyên của thiền  sư, và ngay cả kỹ thuật thiền. Tuy nhiên, một bất ngờ nữa là những khó khăn đó qua  đi. Ở một giai đoạn nào đó, thiền sinh đã biết cách cố gắng

mà không phải gắng sức, giữ sự tỉnh thức thoải mái, tham  gia không bám víu. Thay vì phải vật lộn, thiền sinh bắt  đầu bị cuốn hút vào sự thực tập. Bây giờ những bất tiện  trong sinh hoạt trở thành không quan trọng, kỷ luật trở  nên có ích và nâng đỡ, thời gian qua mau mà không biết.  Tâm trở nên an tịnh như mặt hồ trên núi lúc rạng đông,  soi rõ cảnh vật chung quanh và đồng thời để lộ đáy hồ cho  những ai nhìn kỹ. Khi sự trong sáng này tới, mỗi phút đều  tràn ngập sự minh xác, đẹp đẽ và bình an. Do vậy thiền sinh khám phá ra rằng kỹ thuật này  thực sự hữu hiệu. Mỗi bước là một bước nhảy vọt, và bạn  thấy bạn có thể làm điều đó. Vào giai đoạn cuối của mười  ngày, bạn sẽ thấy rõ hơn hành trình của khóa thiền từ  đầu đến cuối dài như thế nào. Thiền sinh đã qua một tiến  trình tương tự như một cuộc giải phẫu một vết thương đầy  mủ. Mổ vết thương và nặn mủ ra rất đau đớn, nhưng nếu  không làm vậy thì vết thương chẳng bao giờ lành. Một khi  đã lấy hết mủ thì bạn thoát khỏi những đau đớn do nó gây  ra, và có thể phục hồi sức khỏe. Tương tự như vậy, qua một  khóa thiền mười ngày, thiền sinh trút bỏ bớt căng thẳng  trong tâm và vui hưởng một sức khỏe tinh thần mạnh mẽ  hơn. Kỹ thuật Vipassana làm thay đổi sâu xa bên trong, sự  thay đổi này vẫn còn tiếp tục sau khóa thiền. Thiền sinh  sẽ thấy rằng bất cứ sức mạnh tinh thần nào mà mình đã  có được trong khóa thiền, bất cứ điều gì đã học được, đều  có thể áp dụng trong đời sống hằng ngày, có lợi cho chính  mình và tốt cho người khác. Đời sống trở nên hòa hợp, hữu  ích và hạnh phúc hơn. Kỹ thuật ông Goenka dạy là kỹ thuật ông đã học từ ông  Sayagyi U Ba Khin ở Miến Điện. Vị này là học trò của ông  Saya U Thet, một thiền sư nổi tiếng ở Miến Điện vào nửa  đầu thế kỷ 20. Ông Saya U Thet lại là học trò của ông Ledi  Sayadaw, một vị sư và cũng là học giả Miến Điện nổi tiếng

vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Xa hơn nữa thì không  thấy có tài liệu nào về các thiền sư dạy pháp môn này. Tuy  nhiên, những người thực hành thiền Vipassana tin rằng  ông Ledi Sayadaw đã học từ những bậc thầy truyền thống,  là những người đã gìn giữ kỹ thuật này qua nhiều thế hệ,  từ thuở xa xưa khi giáo huấn của Đức Phật lần đầu tiên  được truyền vào Miến Điện Chắc chắn kỹ thuật này phù hợp với những chỉ dẫn của  Đức Phật về thiền, với ý nghĩa đơn giản và xác thực nhất  trong những lời Phật dạy. Và quan trọng nhất là nó đem  lại những kết quả tốt cho riêng mỗi người, hiển nhiên và  tức khắc. Cuốn sách này không phải là tài liệu giúp bạn tự luyện  tập phương pháp thiền Vipassana. Những ai dùng nó để  tự thực hành đều phải hoàn toàn tự chấp nhận rủi ro. Kỹ  thuật này phải được học ở khóa thiền, nơi có môi trường  thích hợp để hỗ trợ thiền sinh và có người hướng dẫn đã  được huấn luyện đúng cách. Thiền là một vấn đề nghiêm  túc, nhất là kỹ thuật Vipassana vốn đối phó với nội tâm  sâu thẳm. Đừng bao giờ đến với thiền một cách qua loa hay  khinh xuất. Nếu việc đọc cuốn sách này khiến bạn hứng  khởi muốn thử qua Vipassana, bạn có thể liên lạc với địa  chỉ ở cuối sách để biết thời gian và địa điểm có khóa thiền. Mục đích của cuốn sách này chỉ đơn thuần là đưa ra  những nét chính của phương pháp thiền Vipassana do ông  Goenka dạy, với hy vọng mở rộng tầm hiểu biết của bạn về  giáo huấn của Đức Phật và về kỹ thuật thiền, điểm tinh  túy của giáo huấn.

Môn bơi lội học (nghệ thuật sống)




Một lần kia, một vị giáo sư trẻ tuổi đi du lịch bằng đường thủy. Ông là một nhà đại trí thức. Tên của ông có một đuôi dài lê thê đằng sau với bằng cấp, nhưng kinh nghiệm đời của ông thì chẳng có bao nhiêu. Trong thủy thủ đoàn có một người thủy thủ già thất học. Mỗi buổi chiều người thủy thủ này thường đến phòng của vị giáo sư trẻ để nghe ông ta nói chuyện về nhiều đề tài. Ông rất ấn tượng với tài học của vị giáo sư trẻ.
Một buổi chiều, sau mấy tiếng đồng hồ nói chuyện với vị giáo sư, người thủy thủ già sửa soạn đi thìvị giáo sư hỏi,
“Này bác, bác đã học môn Địa chất chưa?”
“Thưa ngài đó là gì ạ?”
  “Là môn khảo sát về trái đất.”
  “Thưa ngài chưa. Tôi chưa hề tới trường bao giờ, và tôi cũng chưa bao giờ học cái gì.”
  “Bác ạ, bác đã lãng phí một phần tư cuộc đời rồi!”
Ông già buồn bã tự nghĩ: “Nếu nhà thông thái nói vậy, chắc chắn là phải đúng; ta đã phí phạm mộtphần tư cuộc đời.”
Chiều hôm sau, khi người thủy thủ già sắp rời đi thì vị giáo sư lại hỏi:
  “Này bác, bác đã học Hải dương học chưa?”
  “Đó là gì thế, thưa ngài?”
  “Là môn khảo cứu về biển.”
  “Thưa không, tôi chưa từng được học gì cả.”
  “Bác ơi, bác đã phí phân nửa cuộc đời rồi.”
Người thủy thủ đi ra, càng buồn thêm: “Ta đã phí nửa cuộc đời; nhà thông thái này nói thế.”

Chiều hôm sau nữa, vị giáo sư trẻ lại hỏi ông già:
“Bác ơi, bác đã học môn Khí tượng chưa?”
  “Là gì thế ạ? Tôi chưa bao giờ nghe nói đến cả.
  “Sao thế, đó là ngành học về gió, mưa, thời tiết.”
“Thưa ngài không. Như tôi đã từng nói với ngài, tôi chưa bao giờ đi học, và chưa từng được học gì cả.”
“Bác không học khoa học về trái đất bác đang sống, bác không học về đại dương đang giúp bác kiếm sống, bác
không học về thời tiết mà bác phải đương đầu hằng ngày? Bác ơi, bác đã lãng phí ba phần tư cuộc đời bác rồi!”
Người thủy thủ già rất buồn: “Nhà thông thái này nói ta đã phí ba phần tư đời mình! Chắc chắn là ta đã uổng phí ba phần tư đời mình.”
Ngày hôm sau đến lượt người thủy thủ già. Ông chạy
đến phòng vị giáo sư trẻ và kêu lên:
“Thưa giáo sư, ngài có học Bơi lội học không?”
“Bơi lội học, bác muốn nói gì thế?”
“Ngài có biết bơi không?”
“Không, tôi không biết bơi.”
“Thưa giáo sư, ngài đã phí mất cả cuộc đời! Con tàu đã đâm vào tảng đá và đang chìm. Những người biết bơi có thể bơi vào bờ, những người không biết bơi có thể bị chết đuối. Thưa giáo sư, tôi rất tiếc, chắc chắn là ngài đã mất cả cuộc đời!”

Bạn có thể học tất cả mọi môn học trên đời, nhưng nếu không học môn bơi lội, mọi môn học đều vô dụng. Bạn có thể đọc và viết sách về bơi lội, bạn có thể tranh luận những điểm tế nhị về lý thuyết, nhưng nó có thể giúp gì bạn nếu bạn không chịu xuống nước. Bạn phải học cách bơi.

Chương 1: tìm kiếm (nghệ thuật sống)


Chương 1: tìm kiếm (nghệ thuật sống)


Tất cả chúng ta đều tìm kiếm sự bình an và hòa   hợp, vì đó là những thứ ta thiếu thốn trong   đời. Tất cả chúng ta đều muốn được hạnh phúc và xem   đó là quyền của chúng ta. Tuy hạnh phúc là mục tiêu mà   chúng ta đều cố gắng tiến tới, nhưng ít khi đạt được. Trong   đời, nhiều lúc chúng ta trải qua những sự không hài lòng   - bấn loạn, bực tức, bất hòa, đau khổ. Ngay cả nếu như   trong lúc này ta không có gì để bất mãn, tất cả chúng ta   đều có thể nhớ lại những lúc chúng đã làm ta đau khổ, và   thấy trước được rằng một lúc nào đó chúng có thể xảy ra.   Cuối cùng, tất cả chúng ta đều phải đối diện với sự đau khổ   của cái chết.  Những bất mãn của cá nhân ta không chỉ giới hạn với   riêng mình. Thay vì vậy, chúng ta tiếp tục lan tỏa sự đau   khổ của mình sang những người khác. Không khí chung   quanh một người đau khổ trở nên kích động hơn, khiến cho   tất cả những ai bước vào môi trường đó cũng đều cảm thấy   bấn loạn và không hạnh phúc. Bằng cách này, những căng   thẳng cá nhân cộng hưởng tạo nên căng thẳng xã hội.  Đây là bất ổn căn bản của cuộc đời: bản chất không   mãn nguyện. Có những việc ta không muốn lại xảy ra; có   những việc ta muốn lại không xảy ra. Chúng ta không biết   tiến trình này do đâu và xảy ra như thế nào, cũng như mỗi   chúng ta đều không biết gì về sự sinh ra và chết đi của   chính mình.  Hai mươi lăm thế kỷ trước ở miền bắc Ấn Độ, một   người quyết định khảo sát bất ổn này, bất ổn về khổ đau   của nhân loại. Sau nhiều năm tìm kiếm và thử nghiệm

Chương 2: Điểm khởi đầu (nghệ thuật sống)


Chương 2: Điểm khởi đầu (nghệ thuật sống)


Nguồn gốc của đau khổ nằm ngay trong mỗi  chúng ta. Khi hiểu được thực tế của chính  mình thì chúng ta sẽ nhận biết được giải pháp của vấn  đề đau khổ. “Hãy biết mình” đó là lời khuyên của những  người hiểu biết. Chúng ta phải bắt đầu bằng cách hiểu  được tính chất của chính mình, nếu không chúng ta chẳng  bao giờ giải quyết được vấn đề của ta hay của thế giới.
Nhưng thực sự thì chúng ta biết gì về chính mình?  Chúng ta tự cho mình là quan trọng, là độc nhất, nhưng  sự hiểu biết về chính mình thì rất hời hợt. Chúng ta hoàn  toàn không biết gì về mình ở những tầng lớp sâu hơn.
Đức Phật quan sát hiện tượng của con người bằng cách  quan sát chính ngài. Bỏ ra ngoài mọi định kiến, Ngài tìm  hiểu thực tại bên trong và nhận ra rằng mỗi chúng sinh là  sự kết hợp của năm tiến trình: bốn thuộc về tinh thần và  một thuộc về thể xác.


Chương 3. Nguyên nhân trực tiếp (nghệ thuật sống)



Chương 3. Nguyên nhân trực tiếp (nghệ thuật sống)


Thế giới thật sự không giống thế giới thần tiên  trong đó mọi người sống sung sướng đời đời.  Chúng ta không thể tránh được sự thật: cuộc đời là không  hoàn hảo, không trọn vẹn, không mãn nguyện - sự thật là  khổ hiện hữu
 Biết được thực tế này, điều quan trọng chúng ta cần  phải làm là tìm hiểu xem khổ đau có nguyên nhân không?  Nếu có, ta có thể loại bỏ nguyên nhân để hết khổ không?  Nếu nguyên nhân này chỉ là ngẫu nhiên mà có, và chúng  ta không kiểm soát hay ảnh hưởng gì được, thì chúng ta  đành bó tay và bỏ ý định tìm đường thoát khổ. Hoặc giả,  nếu chúng ta khổ vì sự quyết định độc tài và khó hiểu của  một đấng toàn năng, thì chúng ta phải tìm cách nào làm  vui lòng ngài để ngài không làm khổ chúng ta nữa
 Đức Phật đã hiểu rõ sự đau khổ của chúng ta không  phải là sản phẩm của ngẫu nhiên. Mọi đau khổ đều có  nguyên nhân, và mỗi hiện tượng cũng đều có nguyên  nhân. Luật nhân quả - kamma - phổ quát và là căn bản  cho kiếp người. Những nguyên nhân gây khổ cũng không  ngoài vòng kiểm soát của chúng ta.