Dẫn nhập (Cuốn Sách: nghệ thuật sống)

tháng 1 13, 2020 Add Comment

Giả sử bạn có cơ hội buông bỏ mọi trách nhiệm với  đời trong mười ngày, sống ở một nơi yên tịnh,  vắng vẻ không bị phiền nhiễu. Ở đó bạn được lo cho ăn ở  đầy đủ và có người sẵn sàng giúp đỡ để bạn được thoải mái.  Đổi lại, ngoài những hoạt động cần thiết và giờ ngủ, trong  lúc thức bạn chỉ cần tránh mọi giao tiếp với người khác,  dùng hết thì giờ để nhắm mắt, chú tâm vào một đối tượng  đã được chọn. Bạn có chấp nhận đề nghị này không? Giả sử bạn mới chỉ nghe có cơ hội như thế, và có những  người như bạn không những muốn mà còn nhiệt tâm dùng  thì giờ rảnh theo lối này, thì bạn sẽ mô tả hoạt động của họ  như thế nào? Bạn có thể nói: “Trầm tư mặc tưởng, hướng  vào nội tâm hay hướng ra bên ngoài, hay suy ngẫm, trốn  đời hay tĩnh tâm, tự đầu độc hay tìm kiếm bản ngã.” Dù  ghi nhận là tích cực hay tiêu cực thì ấn tượng chung về  thiền là một sự lẩn tránh cuộc đời. Dĩ nhiên, có những kỹ  thuật tiến hành theo chiều hướng này. Nhưng thiền không  nhất thiết phải là một sự trốn chạy. Nó cũng có thể là một  phương tiện nhập thế để hiểu đời và hiểu mình. Mọi con người đều bị điều kiện hóa để luôn nghĩ rằng  thế giới thật phải nằm ở bên ngoài, và cách sống ở đời là  phải tiếp xúc với thực tại bên ngoài bằng cách tìm kiếm  những tín hiệu tinh thần cũng như vật chất được đưa vào  từ bên ngoài. Hầu hết chúng ta không bao giờ cân nhắc  việc chia chẻ phân tích những tiếp xúc hướng ngoại để xem  điều gì xảy ra bên trong. Ý tưởng làm như vậy nghe có vẻ  giống như chọn dành ra hàng giờ để nhìn chăm chăm vào  khung thử màu trên màn ảnh tivi. Chúng ta thích việc

khám phá nửa tối của mặt trăng hay bên dưới đáy đại  dương hơn là những gì sâu kín trong ta. Nhưng trong thực tế vũ trụ hiện hữu đối với mỗi người  chúng ta chỉ khi ta trải nghiệm nó với thân và tâm. Nó  không bao giờ hiện hữu ở nơi nào ngay tại đây và ngay bây  giờ. Bằng sự tìm tòi cái bây giờ và ở đây của chính mình,  chúng ta có thể khám phá thế giới. Trừ phi khảo sát được  thế giới nội tâm, bằng không thì chúng ta sẽ không bao giờ  khám phá được thực tại - chúng ta sẽ chỉ biết đến những  niềm tin của ta về thực tại, hoặc những khái niệm lý trí  của chúng ta về nó. Tuy nhiên, bằng cách tự quan sát chính  mình, chúng ta có thể trực nghiệm thực tại và có thể học  cách ứng phó với thực tại một cách tích cực và sáng tạo. Một phương pháp để khám phá thế giới nội tâm là  thiền Vipassana được thiền sư S. N. Goenka giảng dạy.  Đây là cách thực tiễn để khảo sát thực tại thân tâm của  chính mình, để phát hiện và giải quyết bất kỳ bất ổn nào  tiềm ẩn trong đó, để phát triển tiềm năng và hướng đến sự  tốt đẹp cho bản thân và người khác. Trong tiếng Pāli, Vipassana có nghĩa là “tuệ giác, tuệ  chứng”. Nó là tinh túy giáo huấn của Đức Phật, là kinh  nghiệm thực sự về sự thật mà Đức Phật nói ra. Chính Đức  Phật đã đạt được kinh nghiệm này nhờ hành thiền. Do  đó, Ngài giảng dạy chủ yếu là thiền. Những lời Ngài nói  là bằng chứng về kinh nghiệm thiền của ngài cũng như là  những chỉ dẫn chi tiết về cách hành thiền sao cho đạt được  mục đích mà Ngài đã đạt được - chứng nghiệm sự thật. Điều này đã được nhiều người chấp nhận rộng rãi,  nhưng vấn đề còn lại là làm sao để hiểu và thực hành theo  những lời Phật dạy. Trong khi những lời Phật dạy được lưu  giữ trong các bản văn được thừa nhận là có độ tin cậy, thì  việc nhận hiểu những chỉ dẫn hành thiền của ngài lại khó

hiểu nếu không được đặt trong một bối cảnh thực hành  sống động. Nhưng nếu một kỹ thuật được bảo tồn từ nhiều thế  hệ, giúp mang lại đúng những kết quả như Đức Phật mô  tả và phù hợp chính xác với những chỉ dẫn của Ngài, soi  sáng những điểm trong đó mà từ lâu nay vẫn còn mù mờ,  thì kỹ thuật đó chắc chắn rất đáng để chúng ta tìm hiểu.  Vipassana là một phương pháp như thế. Nó là một kỹ  thuật khác thường ở sự đơn giản, không có giáo điều, và  quan trọng nhất là những kết quả mà nó mang lại. Thiền Vipassana được dạy trong những khóa thiền 10  ngày, dành cho bất cứ ai thực lòng muốn học và có thể lực  cũng như tinh thần thích hợp để thực hành. Trong 10 ngày  này, những người tham dự cư trú trong khuôn viên khóa  thiền, không liên lạc với thế giới bên ngoài. Họ không được  đọc và viết cũng như không thực hành bất kỳ nghi thức tôn  giáo hay phương pháp tập luyện nào khác, chỉ làm đúng  theo sự chỉ dẫn. Trong toàn khóa học, họ phải giữ những  giới căn bản, trong đó có việc cử tình dục và không dùng  rượu bia. Họ phải giữ im lặng khi sinh hoạt chung trong  chín ngày đầu, tuy nhiên họ được tự do thảo luận những  khó khăn về thiền với các thiền sư và những nhu cầu vật  chất với ban quản trị. Trong ba ngày rưỡi đầu, những người tham dự thực  hành bài tập chú tâm. Đây là sự chuẩn bị để đi vào phần  kỹ thuật chính của Vipassana, phần này được dạy vào ngày  thứ tư của khóa thiền. Những bước tiếp theo của phương  pháp được giới thiệu mỗi ngày, sao cho đến cuối khóa học  thì toàn bộ kỹ thuật này đã được trình bày qua những nét  chính yếu. Vào ngày thứ mười, sự im lặng được bãi bỏ, và  thiền sinh chuyển tiếp về đời sống hướng ngoại nhiều hơn.  Khóa học kết thúc vào sáng ngày thứ mười một

Kinh nghiệm mười ngày rất có thể sẽ có một số điểm  ngạc nhiên cho thiền sinh. Trước hết, thiền là một công  việc khó nhọc. Quan niệm thông thường cho rằng thiền  là không làm gì cả hay một sự nghỉ ngơi sẽ nhanh chóng  được nhận ra là một sự hiểu lầm. Cần phải có sự vận dụng  liên tục để hướng tiến trình của tâm theo đường hướng cụ  thể một cách có ý thức. Theo chỉ dẫn là phải nỗ lực hết sức  nhưng không căng thẳng, nhưng trước khi thiền sinh học  được cách làm đúng như vậy thì sự hành thiền có thể chán  nản và thậm chí là mệt nhoài Điều ngạc nhiên khác nữa có thể nói ngay là tuệ giác có  được qua sự quan sát chính mình không phải bao giờ cũng  dễ chịu và sảng khoái. Thông thường, khi quan sát chính  mình chúng ta thường rất chọn lọc. Khi soi gương, chúng  ta thường chọn khía cạnh đẹp đẽ, vẻ mặt dễ thương nhất.  Cũng vậy, chúng ta có một hình ảnh trong tâm nhấn mạnh  vào những đặc tính đáng được chiêm ngưỡng, giảm thiểu  những khuyết điểm, và loại bỏ luôn một vài khía cạnh của  tính nết. Chúng ta nhìn hình ảnh mà ta muốn nhìn, không  phải thực tại. Nhưng Vipassana là một kỹ thuật quan sát  thực tại từ mọi khía cạnh. Thay vì thận trọng sửa đổi hình  ảnh chính mình, thiền sinh phải đối diện với toàn bộ sự thật  không cắt xén. Một vài khía cạnh trong đó rất có thể là khó  chấp nhận. Trong khi hành thiền, đôi lúc thay vì tìm được sự bình  an nội tâm thì ta lại chỉ thấy bị dao động. Tất cả những  gì về khóa thiền hình như đều không thể thực hành được,  không thể chấp nhận được, như thời khóa biểu quá nặng,  chỗ ăn ở, kỷ luật, những chỉ dẫn và lời khuyên của thiền  sư, và ngay cả kỹ thuật thiền. Tuy nhiên, một bất ngờ nữa là những khó khăn đó qua  đi. Ở một giai đoạn nào đó, thiền sinh đã biết cách cố gắng

mà không phải gắng sức, giữ sự tỉnh thức thoải mái, tham  gia không bám víu. Thay vì phải vật lộn, thiền sinh bắt  đầu bị cuốn hút vào sự thực tập. Bây giờ những bất tiện  trong sinh hoạt trở thành không quan trọng, kỷ luật trở  nên có ích và nâng đỡ, thời gian qua mau mà không biết.  Tâm trở nên an tịnh như mặt hồ trên núi lúc rạng đông,  soi rõ cảnh vật chung quanh và đồng thời để lộ đáy hồ cho  những ai nhìn kỹ. Khi sự trong sáng này tới, mỗi phút đều  tràn ngập sự minh xác, đẹp đẽ và bình an. Do vậy thiền sinh khám phá ra rằng kỹ thuật này  thực sự hữu hiệu. Mỗi bước là một bước nhảy vọt, và bạn  thấy bạn có thể làm điều đó. Vào giai đoạn cuối của mười  ngày, bạn sẽ thấy rõ hơn hành trình của khóa thiền từ  đầu đến cuối dài như thế nào. Thiền sinh đã qua một tiến  trình tương tự như một cuộc giải phẫu một vết thương đầy  mủ. Mổ vết thương và nặn mủ ra rất đau đớn, nhưng nếu  không làm vậy thì vết thương chẳng bao giờ lành. Một khi  đã lấy hết mủ thì bạn thoát khỏi những đau đớn do nó gây  ra, và có thể phục hồi sức khỏe. Tương tự như vậy, qua một  khóa thiền mười ngày, thiền sinh trút bỏ bớt căng thẳng  trong tâm và vui hưởng một sức khỏe tinh thần mạnh mẽ  hơn. Kỹ thuật Vipassana làm thay đổi sâu xa bên trong, sự  thay đổi này vẫn còn tiếp tục sau khóa thiền. Thiền sinh  sẽ thấy rằng bất cứ sức mạnh tinh thần nào mà mình đã  có được trong khóa thiền, bất cứ điều gì đã học được, đều  có thể áp dụng trong đời sống hằng ngày, có lợi cho chính  mình và tốt cho người khác. Đời sống trở nên hòa hợp, hữu  ích và hạnh phúc hơn. Kỹ thuật ông Goenka dạy là kỹ thuật ông đã học từ ông  Sayagyi U Ba Khin ở Miến Điện. Vị này là học trò của ông  Saya U Thet, một thiền sư nổi tiếng ở Miến Điện vào nửa  đầu thế kỷ 20. Ông Saya U Thet lại là học trò của ông Ledi  Sayadaw, một vị sư và cũng là học giả Miến Điện nổi tiếng

vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Xa hơn nữa thì không  thấy có tài liệu nào về các thiền sư dạy pháp môn này. Tuy  nhiên, những người thực hành thiền Vipassana tin rằng  ông Ledi Sayadaw đã học từ những bậc thầy truyền thống,  là những người đã gìn giữ kỹ thuật này qua nhiều thế hệ,  từ thuở xa xưa khi giáo huấn của Đức Phật lần đầu tiên  được truyền vào Miến Điện Chắc chắn kỹ thuật này phù hợp với những chỉ dẫn của  Đức Phật về thiền, với ý nghĩa đơn giản và xác thực nhất  trong những lời Phật dạy. Và quan trọng nhất là nó đem  lại những kết quả tốt cho riêng mỗi người, hiển nhiên và  tức khắc. Cuốn sách này không phải là tài liệu giúp bạn tự luyện  tập phương pháp thiền Vipassana. Những ai dùng nó để  tự thực hành đều phải hoàn toàn tự chấp nhận rủi ro. Kỹ  thuật này phải được học ở khóa thiền, nơi có môi trường  thích hợp để hỗ trợ thiền sinh và có người hướng dẫn đã  được huấn luyện đúng cách. Thiền là một vấn đề nghiêm  túc, nhất là kỹ thuật Vipassana vốn đối phó với nội tâm  sâu thẳm. Đừng bao giờ đến với thiền một cách qua loa hay  khinh xuất. Nếu việc đọc cuốn sách này khiến bạn hứng  khởi muốn thử qua Vipassana, bạn có thể liên lạc với địa  chỉ ở cuối sách để biết thời gian và địa điểm có khóa thiền. Mục đích của cuốn sách này chỉ đơn thuần là đưa ra  những nét chính của phương pháp thiền Vipassana do ông  Goenka dạy, với hy vọng mở rộng tầm hiểu biết của bạn về  giáo huấn của Đức Phật và về kỹ thuật thiền, điểm tinh  túy của giáo huấn.



Môn bơi lội học (nghệ thuật sống)


Một lần kia, một vị giáo sư trẻ tuổi đi du lịch bằng đường thủy. Ông là một nhà đại trí thức. Tên của ông có một đuôi dài lê thê đằng sau với bằng cấp, nhưng kinh nghiệm đời của ông thì chẳng có bao nhiêu. Trong thủy thủ đoàn có một người thủy thủ già thất học. Mỗi buổi chiều người thủy thủ này thường đến phòng của vị giáo sư trẻ để nghe ông ta nói chuyện về nhiều đề tài. Ông rất ấn tượng với tài học của vị giáo sư trẻ.
Một buổi chiều, sau mấy tiếng đồng hồ nói chuyện với vị giáo sư, người thủy thủ già sửa soạn đi thìvị giáo sư hỏi,
“Này bác, bác đã học môn Địa chất chưa?”
“Thưa ngài đó là gì ạ?”
  “Là môn khảo sát về trái đất.”
  “Thưa ngài chưa. Tôi chưa hề tới trường bao giờ, và tôi cũng chưa bao giờ học cái gì.”
  “Bác ạ, bác đã lãng phí một phần tư cuộc đời rồi!”
Ông già buồn bã tự nghĩ: “Nếu nhà thông thái nói vậy, chắc chắn là phải đúng; ta đã phí phạm mộtphần tư cuộc đời.”
Chiều hôm sau, khi người thủy thủ già sắp rời đi thì vị giáo sư lại hỏi:
  “Này bác, bác đã học Hải dương học chưa?”
  “Đó là gì thế, thưa ngài?”
  “Là môn khảo cứu về biển.”
  “Thưa không, tôi chưa từng được học gì cả.”
  “Bác ơi, bác đã phí phân nửa cuộc đời rồi.”
Người thủy thủ đi ra, càng buồn thêm: “Ta đã phí nửa cuộc đời; nhà thông thái này nói thế.”

Chiều hôm sau nữa, vị giáo sư trẻ lại hỏi ông già:
“Bác ơi, bác đã học môn Khí tượng chưa?”
  “Là gì thế ạ? Tôi chưa bao giờ nghe nói đến cả.
  “Sao thế, đó là ngành học về gió, mưa, thời tiết.”
“Thưa ngài không. Như tôi đã từng nói với ngài, tôi chưa bao giờ đi học, và chưa từng được học gì cả.”
“Bác không học khoa học về trái đất bác đang sống, bác không học về đại dương đang giúp bác kiếm sống, bác
không học về thời tiết mà bác phải đương đầu hằng ngày? Bác ơi, bác đã lãng phí ba phần tư cuộc đời bác rồi!”
Người thủy thủ già rất buồn: “Nhà thông thái này nói ta đã phí ba phần tư đời mình! Chắc chắn là ta đã uổng phí ba phần tư đời mình.”
Ngày hôm sau đến lượt người thủy thủ già. Ông chạy
đến phòng vị giáo sư trẻ và kêu lên:
“Thưa giáo sư, ngài có học Bơi lội học không?”
“Bơi lội học, bác muốn nói gì thế?”
“Ngài có biết bơi không?”
“Không, tôi không biết bơi.”
“Thưa giáo sư, ngài đã phí mất cả cuộc đời! Con tàu đã đâm vào tảng đá và đang chìm. Những người biết bơi có thể bơi vào bờ, những người không biết bơi có thể bị chết đuối. Thưa giáo sư, tôi rất tiếc, chắc chắn là ngài đã mất cả cuộc đời!”

Bạn có thể học tất cả mọi môn học trên đời, nhưng nếu không học môn bơi lội, mọi môn học đều vô dụng. Bạn có thể đọc và viết sách về bơi lội, bạn có thể tranh luận những điểm tế nhị về lý thuyết, nhưng nó có thể giúp gì bạn nếu bạn không chịu xuống nước. Bạn phải học cách bơi.